Việc Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường không chỉ là một bước cắt giảm thủ tục, giấy phép hay điều kiện kinh doanh. Sâu xa hơn, đây là phép thử đối với một tư duy lập pháp mới: chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ quản lý theo quy trình sang quản trị theo kết quả, đồng thời phân quyền mạnh hơn cho địa phương. Với 40 thủ tục hành chính được cắt giảm, 12 thủ tục được đơn giản hóa, 40 điều kiện kinh doanh được bãi bỏ và 24 thủ tục được phân quyền cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh, đạo luật đang mở thêm không gian pháp lý cho người dân, doanh nghiệp và các chủ thể sản xuất phát huy tính chủ động, sáng tạo.

Sáng 24/8/2026, với 465/467 đại biểu có mặt tán thành, đạt 93%, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. Mười luật được sửa đổi gồm Luật Trồng trọt, Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật, Luật Chăn nuôi, Luật Thú y, Luật Thủy sản, Luật Địa chất và khoáng sản, Luật Tài nguyên nước, Luật Thủy lợi, Luật Khí tượng thủy văn và Luật Đê điều.
Điểm đáng chú ý là đạo luật được xây dựng không theo cách tiếp cận sửa đổi toàn diện từng luật, mà tập trung vào những quy định trực tiếp liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh và phân quyền. Đây là cách tiếp cận có tính thực dụng cao, nhằm nhanh chóng xử lý những điểm nghẽn đang tác động trực tiếp tới hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội.
Từ “cắt giảm thủ tục” đến đổi mới tư duy xây dựng pháp luật
Nếu chỉ nhìn vào những con số 40, 12, 40 và 24, có thể xem đây đơn thuần là một đợt cải cách thủ tục hành chính. Nhưng đặt trong tiến trình đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật hiện nay, ý nghĩa của đạo luật rộng hơn nhiều.
Theo thiết kế của dự án luật, 8 trong số 10 luật được sửa đổi để cắt giảm 40 thủ tục hành chính, đơn giản hóa 12 thủ tục và bãi bỏ 40 điều kiện kinh doanh. Đồng thời, 4 luật được sửa đổi để phân quyền 24 thủ tục hành chính từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh thực hiện.
Điều quan trọng hơn nằm ở phương thức quản lý phía sau những con số đó. Trong nền hành chính truyền thống, thủ tục thường được thiết kế theo logic “kiểm soát trước”: muốn sản xuất, kinh doanh hoặc đưa một sản phẩm ra thị trường, chủ thể phải đáp ứng một loạt điều kiện và hoàn thành nhiều tầng nấc hồ sơ trước khi được cơ quan nhà nước xác nhận. Mô hình này có ưu điểm là tạo ra hàng rào phòng ngừa rủi ro, nhưng nếu thiết kế quá dày sẽ làm gia tăng chi phí tuân thủ, kéo dài thời gian gia nhập thị trường và làm giảm khả năng phản ứng nhanh của doanh nghiệp.
Trong khi đó, nền quản trị hiện đại đòi hỏi Nhà nước không chỉ “kiểm soát” mà còn phải “kiến tạo”. Nhà nước đặt ra những chuẩn mực cốt lõi về chất lượng, an toàn, môi trường và trách nhiệm xã hội; còn doanh nghiệp và người dân được trao nhiều hơn quyền tự chủ để tổ chức hoạt động trong khuôn khổ pháp luật.
Đó chính là lý do dự án luật nhấn mạnh việc chuyển một số cơ chế từ tiền kiểm sang tự công bố, đồng thời xác lập nghĩa vụ cốt lõi của tổ chức, cá nhân về chất lượng, an toàn, lưu giữ hồ sơ, phục vụ hậu kiểm và truy xuất nguồn gốc.
Như vậy, cắt giảm thủ tục không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý. Ngược lại, đó là sự chuyển đổi phương thức quản lý: giảm những khâu hành chính không tạo ra giá trị kiểm soát tương xứng, nhưng tăng trách nhiệm pháp lý của chủ thể và nâng chất lượng hậu kiểm.
Đây là điểm có ý nghĩa đặc biệt đối với lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, nơi hàng triệu hộ sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng tham gia chuỗi giá trị. Một thủ tục được cắt bỏ có thể không tạo ra thay đổi lớn đối với một tập đoàn, nhưng lại có thể quyết định chi phí và khả năng tiếp cận thị trường của một hộ sản xuất hoặc một hợp tác xã ở địa phương.
Đáng chú ý, cách tiếp cận này phù hợp với tinh thần Nghị quyết 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật. Chương trình hành động của Chính phủ tại Nghị quyết 140/NQ-CP đặt mục tiêu cơ bản tháo gỡ các “điểm nghẽn” do quy định pháp luật trong năm 2025, đồng thời hướng tới hoàn thiện cơ sở pháp lý đồng bộ cho hoạt động của bộ máy nhà nước theo mô hình chính quyền 3 cấp và cải thiện mạnh môi trường đầu tư, kinh doanh.
Đặc biệt, Kết luận 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam tiếp tục đặt ra yêu cầu đổi mới cấu trúc pháp luật, khắc phục tình trạng cồng kềnh, nhiều tầng nấc và tăng tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Bởi vậy, việc cùng lúc sửa đổi 10 luật trong một dự án không nên được nhìn nhận đơn thuần là “sửa nhiều luật”. Vấn đề nằm ở chỗ các luật này có mối liên hệ chặt chẽ về nhóm lĩnh vực và cùng hướng tới một mục tiêu cải cách thống nhất. Đây cũng là điểm phù hợp với định hướng của Kết luận 09-KL/TW: chỉ sửa đổi nhiều văn bản cùng lúc khi chúng có mối liên hệ chặt chẽ về nội dung hoặc cùng điều chỉnh một nhóm lĩnh vực.
Phân quyền thủ tục: đưa quyết định đến gần nơi phát sinh nhu cầu
Một trong những điểm có ý nghĩa quản trị nổi bật của đạo luật là phân quyền 24 thủ tục hành chính từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh.
Về bản chất, đây không chỉ là việc chuyển “thẩm quyền ký” từ Trung ương xuống địa phương. Nếu được tổ chức thực hiện đồng bộ, phân quyền còn là bước điều chỉnh lại mối quan hệ giữa Trung ương và địa phương trong quản trị hành chính.
Trong thực tế, các vấn đề về trồng trọt, chăn nuôi, thú y, thủy sản, tài nguyên nước, thủy lợi hay đê điều thường gắn chặt với điều kiện địa bàn. Một quy trình giải quyết được thiết kế thống nhất ở Trung ương nhưng thực hiện tại địa phương có thể phát sinh độ trễ nhất định do khoảng cách hành chính, khối lượng hồ sơ và sự khác biệt về đặc điểm kinh tế – xã hội.
Khi thẩm quyền được giao cho cấp tỉnh, nguyên tắc “việc nào sát dân, sát doanh nghiệp thì cấp đó giải quyết” có điều kiện được thể hiện rõ hơn.
Tuy nhiên, phân quyền chỉ thực sự tạo ra hiệu quả nếu đi kèm với ba điều kiện.
Thứ nhất là năng lực thực thi. Không thể chỉ chuyển thẩm quyền mà không chuyển đầy đủ nguồn lực, nhân lực, dữ liệu và công cụ quản lý. Nếu địa phương nhận thêm trách nhiệm nhưng thiếu cán bộ chuyên môn, thiếu hệ thống dữ liệu hoặc thiếu quy trình nghiệp vụ thống nhất, cải cách có thể vô tình tạo ra những điểm nghẽn mới.
Thứ hai là tính thống nhất của tiêu chuẩn pháp lý. Phân quyền về thẩm quyền không đồng nghĩa với phân mảnh tiêu chuẩn. Người dân, doanh nghiệp ở các tỉnh khác nhau vẫn phải được bảo đảm một mặt bằng pháp lý thống nhất. Do đó, Trung ương cần giữ vai trò kiến tạo khung pháp lý, tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ sở dữ liệu và cơ chế giám sát.
Thứ ba là trách nhiệm giải trình. Khi quyền lực được phân bổ xuống địa phương, trách nhiệm cũng phải được xác định rõ hơn. Cơ quan, người có thẩm quyền phải chịu trách nhiệm về tiến độ, chất lượng và tính đúng pháp luật của quyết định hành chính.
Nói cách khác, phân quyền không phải là “chia nhỏ quyền lực”, mà là thiết kế lại chuỗi trách nhiệm trong quản trị công.
Nếu làm tốt, đây sẽ là một bước tiến từ mô hình hành chính thiên về xin – cho sang mô hình quản trị dựa trên thẩm quyền rõ ràng, trách nhiệm cụ thể và kết quả có thể đo lường.
Đáng chú ý, quá trình cải cách này không bắt đầu từ đạo luật vừa được Quốc hội thông qua. Trước đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 17/2026/NQ-CP ngày 29/4/2026 về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Tiếp đó, Nghị quyết 66.19/2026/NQ-CP ngày 18/5/2026 tiếp tục đặt trọng tâm vào cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực này.
Như vậy, đạo luật được Quốc hội thông qua ngày 24/8 là bước thể chế hóa ở cấp luật đối với một tiến trình cải cách đã được triển khai từ trước. Đây là điểm quan trọng, bởi cải cách thủ tục hành chính chỉ bền vững khi những thay đổi về quy trình được nâng lên thành quy phạm pháp luật có hiệu lực cao và ổn định.
Hậu kiểm phải trở thành “điểm tựa” của cải cách
Cắt giảm thủ tục và điều kiện kinh doanh chỉ có thể tạo ra giá trị thực sự nếu đi cùng một hệ thống hậu kiểm đủ mạnh.
Đây chính là thách thức lớn nhất của quá trình chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Khi Nhà nước giảm yêu cầu xin phép trước, trách nhiệm của doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân không giảm đi mà thay đổi về bản chất. Chủ thể sản xuất phải tự chịu trách nhiệm nhiều hơn đối với chất lượng sản phẩm, an toàn, hồ sơ, nguồn gốc và tính trung thực của thông tin công bố.
Do đó, một nền hành chính hiện đại không thể chỉ có “cửa trước” thông thoáng mà thiếu “cửa sau” kiểm soát hiệu quả.
Hậu kiểm phải dựa trên dữ liệu, đánh giá rủi ro và khả năng truy xuất. Những chủ thể có lịch sử tuân thủ tốt có thể được giảm tần suất kiểm tra; những trường hợp có dấu hiệu rủi ro phải được kiểm tra sâu hơn. Đây là cách tiếp cận vừa bảo vệ lợi ích công cộng, vừa tránh tình trạng kiểm tra dàn trải, gây tốn kém cho cả cơ quan quản lý và doanh nghiệp.
Đặc biệt, trong nông nghiệp, kiểm soát chất lượng không thể chỉ dừng ở một khâu. Chuỗi sản xuất liên quan đến giống, vật tư, thức ăn chăn nuôi, thuốc bảo vệ thực vật, thú y, nuôi trồng thủy sản, thu hoạch, chế biến và lưu thông. Một hệ thống hậu kiểm hiệu quả vì thế phải được xây dựng theo chuỗi giá trị và dựa trên dữ liệu liên thông.
Từ góc độ này, cải cách thủ tục hành chính thực chất là một cuộc cải cách về phương thức quản trị nhà nước.
Nhà nước không rút khỏi quản lý; Nhà nước quản lý thông minh hơn.
Nhà nước không chuyển trách nhiệm cho doanh nghiệp; Nhà nước phân định lại trách nhiệm giữa cơ quan công quyền và chủ thể thị trường.
Nhà nước cũng không đơn giản hóa pháp luật theo nghĩa “ít quy định hơn bằng mọi giá”; mục tiêu là tạo ra những quy định cần thiết, rõ ràng, có thể dự đoán và có khả năng thực thi.
Đó cũng là tinh thần của việc Chính phủ nhấn mạnh dự án luật chỉ sửa đổi những nội dung liên quan trực tiếp đến thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh, chưa sửa đổi toàn diện 10 luật. Chính phủ đồng thời xác định sẽ tiếp tục tổng kết thực tiễn, đánh giá tác động để đề xuất sửa đổi toàn diện từng luật trong giai đoạn tiếp theo.
Cách làm này có ưu điểm là tránh gây xáo trộn lớn đối với hệ thống pháp luật hiện hành, đồng thời xử lý ngay những điểm nghẽn cấp thiết. Nhưng về dài hạn, yêu cầu đặt ra là phải bảo đảm sự thống nhất giữa các đợt sửa đổi từng phần và quá trình hoàn thiện toàn diện các luật chuyên ngành.
Nếu không có lộ trình tổng thể, sửa đổi từng phần nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng pháp luật tiếp tục phải “vá” theo nhu cầu thực tiễn. Vì vậy, việc Quốc hội thông qua đạo luật lần này nên được xem là một bước trong chương trình cải cách lớn hơn, chứ không phải điểm kết thúc.
Từ cải cách thủ tục đến cải cách thể chế
Điểm đáng ghi nhận nhất của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật lần này nằm ở sự dịch chuyển trong tư duy pháp lý.
Từ chỗ coi thủ tục hành chính chủ yếu là công cụ kiểm soát, pháp luật đang hướng tới coi thủ tục là một bộ phận của chất lượng môi trường kinh doanh.
Từ chỗ đặt nặng tiền kiểm, pháp luật tăng cường tự chủ, tự chịu trách nhiệm và hậu kiểm.
Từ chỗ tập trung thẩm quyền ở Trung ương, pháp luật từng bước phân quyền cho địa phương gắn với trách nhiệm giải trình.
Và từ chỗ sửa đổi pháp luật theo từng ngành riêng biệt, quá trình lập pháp đang hướng tới xử lý những nhóm vấn đề có mối liên hệ chặt chẽ.
Đó là những thay đổi có ý nghĩa nền tảng. Đối với nông nghiệp và môi trường, tác động của cải cách càng đáng chú ý bởi đây là hai lĩnh vực vừa có quy mô kinh tế lớn, vừa liên quan trực tiếp đến an ninh lương thực, tài nguyên, sinh thái và sinh kế của hàng triệu người. Một cơ chế pháp lý minh bạch, dễ dự đoán và ít chi phí tuân thủ sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, thúc đẩy đổi mới công nghệ và tạo điều kiện hình thành những chuỗi giá trị nông nghiệp hiện đại.
Nhưng để những mục tiêu đó trở thành kết quả thực tế, khâu thi hành sẽ quyết định thành công.
Cơ quan quản lý phải thay đổi phương thức làm việc. Địa phương phải nâng cao năng lực thực thi. Doanh nghiệp phải chuyển từ tâm lý “xin được cấp phép” sang chủ động tuân thủ và chịu trách nhiệm. Hệ thống dữ liệu phải được liên thông để hậu kiểm dựa trên rủi ro thay vì kiểm tra thủ công, dàn trải.
Một đạo luật tốt có thể mở cánh cửa cải cách, nhưng chỉ một nền hành chính thực thi tốt mới biến cánh cửa đó thành con đường phát triển.
Việc Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật vì thế có thể được nhìn nhận như một dấu mốc trong tiến trình chuyển đổi từ quản lý hành chính sang quản trị phát triển. Giá trị cuối cùng của cải cách không nằm ở việc Nhà nước đã cắt giảm bao nhiêu thủ tục, mà ở chỗ người dân và doanh nghiệp có thực sự tiết kiệm được thời gian, chi phí; địa phương có thực sự chủ động hơn; và thị trường có thực sự vận hành minh bạch, an toàn, hiệu quả hơn hay không.
Đó cũng là thước đo quan trọng để tinh thần đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật được chuyển hóa từ chủ trương thành năng lực cạnh tranh quốc gia.
ThS Phạm Nguyên Bảo
Tài liệu tham khảo:
- Báo Điện tử Chính phủ, Tán thành sửa đổi, bổ sung 10 luật về cải cách TTHC, điều kiện kinh doanh lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, ngày 24/8/2026.
- Báo Điện tử Chính phủ, Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, ngày 7/8/2026.
- Chính phủ, Nghị quyết số 17/2026/NQ-CP ngày 29/4/2026 về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
- Chính phủ, Nghị quyết số 66.19/2026/NQ-CP ngày 18/5/2026 về cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
- Chính phủ, Nghị quyết số 159/NQ-CP ngày 20/6/2026 về việc bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật vào Chương trình Kỳ họp không thường lệ năm 2026 của Quốc hội khóa XVI.
- Bộ Chính trị, Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
- Bộ Chính trị, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Chính phủ, Nghị quyết số 140/NQ-CP ngày 17/5/2025 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 66-NQ/TW.
Nguồn: Việt Nam Hội Nhập





