spot_img
spot_img

Cà phê kể chuyện trăm năm – Kỳ 1: Từ đồn điền đến “thủ phủ” cà phê của Việt Nam

Từ những đồn điền cà phê thời Pháp thuộc đến vị thế “thủ phủ” Robusta Việt Nam, cây cà phê qua hơn một thế kỷ bén rễ trên đất đỏ bazan Đắk Lắk đã vượt khỏi ranh giới của một nông sản thuần túy để trở thành di sản sống, kết tinh tri thức bản địa và văn hóa đại ngàn.

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, hành trình trăm năm ấy đang tiếp tục được viết tiếp bằng tư duy phát triển bền vững, nâng tầm giá trị tỷ đô, biến Buôn Ma Thuột thành điểm đến ẩm thực – du lịch trải nghiệm hấp dẫn và kiến tạo vị thế thủ phủ cà phê Robusta của thế giới.

Kỳ 1: Từ đồn điền đến “thủ phủ” cà phê của Việt Nam

Từ những đồn điền cà phê đầu tiên do người Pháp gây dựng cuối thế kỷ XIX, Buôn Ma Thuột và vùng đất Đắk Lắk đã trở thành vùng cà phê lớn nhất cả nước.

Với lợi thế là một vùng đất đỏ bazan màu mỡ, có những ưu thế đặc trưng về điều kiện tự nhiên, cao nguyên Buôn Ma Thuột không những là nơi cây cà phê sinh trưởng tốt mà còn tạo nên hạt cà phê chất lượng cao, hương vị khác biệt so với nhiều vùng đất khác. Và nơi đây đã sớm trở thành “tâm điểm” của ngành cà phê Việt nam, cũng như thế giới, đặc biệt là đối với cà phê Robusta.

Cà phê – Duyên lành trên đất bazan

Cây cà phê du nhập vào Việt Nam khá sớm (từ năm 1857) thông qua một số linh mục thừa sai người Pháp. Tại Buôn Ma Thuột, cây cà phê được đưa vào trồng thử nghiệm đầu tiên trước thời điểm toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập đơn vị hành chính tỉnh Đắk Lắk, vào ngày 22/11/1904. Đến những năm 1912 – 1914, hai Công ty nông nghiệp lớn nhất Đắk Lắk là Công ty cao nguyên Đông Dương (CHPI) và Công ty nông nghiệp An Nam (CADA) được chính quyền Pháp cho phép thành lập để trồng cà phê, với tổng diện tích 260 ha.





Di tích lịch sử CADA đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích cấp quốc gia từ năm 1999.
Di tích lịch sử CADA đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích cấp quốc gia từ năm 1999. Đây là nơi do Pháp xây dựng vào năm 1922 để trồng cà phê, chè

Lượng cà phê thu được lúc này tuy còn rất ít nhưng được đưa về chính quốc chế biến, tiêu thụ. Các nhà rang xay tại Pháp lúc bấy giờ đánh giá chất lượng và hương vị tự nhiên của cà phê Buôn Ma Thuột thơm đặc trưng; thể chất đậm đà hơn hẳn cà phê Bờ Biển Ngà vốn đã nổi tiếng khắp châu Âu. Vì thế, nhiều nhà tư bản và chủ ngân hàng của Pháp quyết định đầu tư mở đồn điền ở Buôn Ma Thuột.

Từ sau năm 1925, với việc mở rộng các nhượng địa, hàng loạt đồn điền cà phê được thành lập, tạo nên một vùng sản xuất tập trung, có tổ chức và mang tính công nghiệp. Đến năm 1931, tổng diện tích cà phê ở Đắk Lắk (tập trung chủ yếu ở khu vực Buôn Ma Thuột) đã lên đến 2.130 ha (riêng Đồn điền CADA là 1.000 ha) đứng thứ tư trong cả nước; trong đó 51% diện tích là cà phê chè, 33% cà phê vối, còn lại là cà phê mít. Giai đoạn này đã đặt những viên gạch đầu tiên cho thương hiệu cà phê Buôn Ma Thuột.

Những con số ấy cho thấy cây cà phê đã sớm tạo được vị thế ở vùng đất này. Nhưng phía sau sự phát triển của những đồn điền là một thực tế khác: người dân bản địa khi ấy gần như đứng ngoài quyền sở hữu đối với cây trồng đang được gieo trồng trên chính quê hương mình.





Ông Mai Đình Thọ, nguyên Phó Bí thư Huyện ủy Krông Pắc giới thiệu về cây cà phê được trồng từ thời Pháp thuộc.
Ông Mai Đình Thọ (người đội mũ), nguyên Phó Bí thư Huyện ủy Krông Pắc giới thiệu về cây cà phê được trồng từ thời Pháp thuộc.

“Cà phê khi ấy không thuộc về người dân địa phương. Nó được trồng, chăm sóc và thu hoạch để phục vụ cho những chuyến hàng hướng về các thị trường xa xôi. Người dân bản địa, dù sống trên chính mảnh đất này, lại không có quyền tự do trồng cà phê cho riêng mình”, ông Mai Đình Thọ, nguyên Phó Bí thư Huyện ủy Krông Pắc, chia sẻ.

Ở xã Ea Knuếc, ký ức về những ngày làm thuê tại Đồn điền CADA (nay thuộc xã Krông Pắc) vẫn được những người lớn tuổi lưu giữ. Đó là những ngày lao động nặng nhọc, thiếu thốn nhưng cũng là quãng thời gian người dân bản địa học được kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hái cà phê một cách trực tiếp nhất.

Ông Y Lơi Mlô (SN 1944, buôn Ea Đun, xã Ea Knuếc) kể lại: “Thời đó, cha tôi làm công nhân cho đồn điền CADA, bản thân tôi năm nào đến mùa thu hoạch cũng theo cha đi hái thuê cho đồn điền để kiếm thêm thu nhập phụ giúp gia đình. Thời điểm đó, cà phê là cây trồng độc quyền của thực dân Pháp nên sau mỗi ngày làm việc, trước khi ra khỏi đồn điền họ sẽ lục soát rất kỹ để bảo đảm người dân không mạng hạt hay cây cà phê con ra ngoài. Nếu phát hiện người dân trồng họ sẽ bắt nhổ bỏ và bắt giữ ngay. Tuy nhiên, những hạt cà phê do chồn ăn rồi thải ra thì họ lại cho chúng tôi nhặt mang về rang xay, pha uống. Cũng từ đó, người Êđê chúng tôi cũng bắt đầu biết uống cà phê. Thói quen ấy vẫn duy trì cho đến nay”.





Vườn cà phê đã gắn bó bao đời với gia đình ông Y Lơi Mlô.
Vườn cà phê đã gắn bó bao đời với gia đình ông Y Lơi Mlô.

Sau những năm 1970, khi người dân bắt đầu được phép trồng cà phê, họ tìm cây con quanh các vùng trồng cà phê, đem về ươm rồi trồng trên đất khai hoang. Những kinh nghiệm tích lũy trong thời gian làm công nhân đồn điền trở thành vốn liếng quý giá; những kiến thức trồng, chăm sóc, thu hoạch, chế biến được truyền từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác.

“Lúc đó, chúng tôi đi nhổ cây con xung quanh các lô đất trồng cà phê ở đồn điền rồi đem về cắt bớt ngọn, ươm khoảng 15 – 20 ngày rồi mang đi trồng. Chúng tôi cứ ướm 3 bước chân trồng 1 cây. Ban đầu gia đình tôi trồng được khoảng 1 ha, về sau khai hoang thêm đất đai, thời điểm trồng nhiều nhất khoảng 4 ha”, ông Y Lơi nhớ lại.

Chính quá trình “học nghề trong im lặng” đã góp phần hình thành lớp nông dân cà phê đầu tiên của vùng đất Buôn Ma Thuột, tạo nền tảng để cây cà phê vượt ra khỏi phạm vi đồn điền và trở thành cây trồng gắn với sinh kế của cộng đồng.

Dẫn đầu về diện tích và sản lượng

Sau ngày đất nước thống nhất, cây cà phê bước vào một giai đoạn phát triển mới. Từ những vùng trồng ban đầu, cà phê dần mở rộng ra các địa bàn lân cận. Các vùng chuyên canh lớn hình thành tại TP. Buôn Ma Thuột và các huyện Krông Pắc, Cư M’gar, Ea H’leo, Đắk Mil, Krông Ana, Krông Búk, Krông Năng, Ea Kar (theo địa danh trước khi sáp nhập). Các vùng chuyên canh này chiếm khoảng 86% diện tích và 89% sản lượng cà phê toàn tỉnh. Cây cà phê từng bước trở thành cây trồng chủ lực của người dân địa phương. Quá trình ấy kéo dài qua nhiều thế hệ và làm nên một vùng sản xuất mà ngày nay được định danh bằng chính tên gọi Buôn Ma Thuột, đưa Đắk Lắk trở thành vùng cà phê trọng điểm của cả nước.





Vùng trồng cà phê tại khu vực Cư Mgar.
Vùng trồng cà phê cảnh quan tại khu vực Cư M’gar.

Theo TS. Trịnh Đức Minh, Chủ tịch Hiệp hội Cà phê Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk hiện có hơn 217.000 ha cà phê, trong đó có gần 203.000 ha kinh doanh, sản lượng trên 580.000 tấn/năm. Cà phê của tỉnh được xuất khẩu đến 70 thị trường; kim ngạch khoảng 1,15 tỷ USD năm 2025, với sản lượng xuất khẩu đạt 240.000 tấn, tăng hơn 105% so với năm 2024.

Như vậy, nếu năm 1931 toàn tỉnh mới có 2.130 ha cà phê thì sau nhiều thập kỷ, diện tích đã tăng lên trên 200.000 ha. Quy mô sản xuất không chỉ lớn hơn hàng trăm lần mà còn tạo ra một hệ sinh thái kinh tế gắn với hàng trăm nghìn người lao động. Cây cà phê vì thế không chỉ là một ngành sản xuất nông nghiệp mà đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng, tác động đến phát triển nông thôn, công nghiệp chế biến, khởi nghiệp và hình thành thế hệ làm cà phê mới.

Điều đáng chú ý là quá trình phát triển của cà phê Đắk Lắk không dừng lại ở việc mở rộng diện tích và sản lượng. Từ năm 2002, tỉnh đã đi đầu triển khai các chương trình sản xuất cà phê bền vững có chứng nhận như 4C, UTZ, Rainforest Alliance, Fairtrade và sau đó là cà phê hữu cơ. Đặc biệt, từ năm 2019, Đắk Lắk khởi xướng phát triển cà phê đặc sản, mở thêm một phân khúc cao cấp mới của ngành hàng nhằm gia tăng giá trị và danh tiếng cho cà phê Buôn Ma Thuột.





Bà con nông dân thu hoạch cà phê trong vùng Chỉ dẫn địa lý Cà phê Buôn Ma Thuột.
Bà con nông dân thu hoạch cà phê trong vùng Chỉ dẫn địa lý Cà phê Buôn Ma Thuột.

Điều này cho thấy sự thay đổi quan trọng về tư duy phát triển nông nghiệp. Nếu giai đoạn đầu, người trồng chủ yếu quan tâm làm sao có thêm diện tích và sản lượng thì hiện nay, câu hỏi lớn hơn là làm thế nào để một kilogram cà phê tạo ra nhiều giá trị hơn. Cùng với chất lượng, thương hiệu cũng trở thành một tài sản ngày càng quan trọng. Hiện nay, nhãn hiệu “Buon Ma Thuot Coffee” đã được đăng ký bảo hộ tại 32 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó được bảo hộ dưới hình thức Chỉ dẫn địa lý (CDĐL) tại 28 quốc gia (gồm 27 quốc gia khối EU và Thái Lan).

Đặc biệt, CDĐL Buôn Ma Thuột đã được mở rộng phạm vi bảo hộ từ cà phê nhân sang sản phẩm hạt rang, cà phê bột và hòa tan nguyên chất theo Quyết định số 939/QĐ-SHTT của Cục Sở hữu trí tuệ. Đến nay, đã có 18 đơn vị, doanh nghiệp và hợp tác xã lớn trên địa bàn tỉnh được cấp quyền sử dụng CDĐL với quy mô hàng ngàn tấn sản phẩm mỗi năm. Đây là nền tảng để bảo vệ danh tiếng, nguồn gốc, chất lượng và nâng khả năng cạnh tranh của cà phê Buôn Ma Thuột trên các thị trường quốc tế.




(còn nữa)

Kỳ 2: Cà phê Robusta – Từ xuất khẩu thô đến bài toán tạo giá trị tỷ đô

Minh Hoàng Thúy

Nguồn: Báo Đắk Lắk điện tử

CÙNG CHUYÊN MỤC

spot_imgspot_img
spot_imgspot_img
spot_imgspot_img
spot_imgspot_img

MỚI NHẤT