Mặc dù sở hữu vùng nguyên liệu rộng lớn, điều kiện tự nhiên thuận lợi nhưng đến nay, nông nghiệp công nghệ cao ở Đắk Lắk vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Điều đó cho thấy, còn nhiều “điểm nghẽn” cần được tháo gỡ bằng thể chế, hạ tầng và tư duy phát triển.
Vướng về cơ chế
Đắk Lắk với tiềm năng khổng lồ về nông nghiệp đang mở đường cho các đại dự án nông nghiệp công nghệ cao, từ vùng trồng trọt quy mô lớn đến hệ thống nuôi biển công nghiệp công nghệ cao tại các đầm, vịnh lớn như Xuân Đài, Vũng Rô, Cù Mông. Thế nhưng, khi các doanh nghiệp bắt tay vào cuộc, rào cản đầu tiên và lớn nhất vẫn là câu chuyện cơ chế đất đai và thủ tục hành chính.
![]() |
| Các dự án chăn nuôi công nghệ cao cần những quỹ đất sạch để đầu tư. |
Thực tế cho thấy, đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao đòi hỏi nguồn lực khổng lồ và một quỹ đất “sạch”, tập trung, có thời hạn sử dụng đủ dài để khấu hao công nghệ. Tuy nhiên, việc tích tụ ruộng đất hiện nay vẫn gặp nhiều vướng mắc pháp lý. Các thủ tục về giao đất, cho thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối với các dự án nông nghiệp quy mô lớn thường kéo dài, làm mất đi cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, việc tiếp cận các nguồn tín dụng ưu đãi cho nông nghiệp công nghệ cao vẫn rất xa vời do tài sản trên đất nông nghiệp chưa được định giá và thế chấp một cách thông thoáng.
|
“Thị trường không còn chấp nhận một nền nông nghiệp chỉ chạy theo sản lượng. Muốn phát triển bền vững phải chuyển sang cạnh tranh bằng chất lượng, công nghệ và giá trị gia tăng”.
|
Ông Phongphit Weera, Phó Tổng Giám đốc phụ trách sản xuất Tập đoàn Hùng Nhơn chia sẻ: Để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2036 cung ứng khoảng 200 triệu gà giống, 25 triệu gà thịt xuất khẩu và 10.000 con lợn, hướng đến doanh thu 2 tỷ USD cho toàn chuỗi, doanh nghiệp cần một cơ chế thông thoáng về thủ tục hành chính, quỹ đất sạch và phát triển đồng bộ hạ tầng phục vụ sản xuất. Sự đồng hành của chính quyền sẽ tạo niềm tin để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư dài hạn, đưa công nghệ tiên tiến vào sản xuất.
Ông Võ Văn Nha (Viện Khoa học thủy sản Việt Nam) cũng chỉ ra những bất cập tương tự trong lĩnh vực thủy sản công nghệ cao: Đắk Lắk hiện có trên 42.000 ha mặt nước nội địa cùng các đầm vịnh ven biển lý tưởng cho nuôi biển công nghiệp. Tiềm năng sản xuất giống và nuôi thương phẩm tôm hùm, tôm nước lợ công nghệ cao là rất lớn. Tuy nhiên, cơ chế giao quyền sử dụng mặt nước biển, mặt nước hồ chứa và các tiêu chuẩn kỹ thuật về giám sát môi trường tự động hiện vẫn chưa đồng bộ, khiến chất lượng con giống chưa đồng đều và quy mô sản xuất còn mang tính nhỏ lẻ.
Chuỗi giá trị chưa khép kín
Mặc dù Đắk Lắk là thủ phủ cà phê lớn nhất Việt Nam với trên 217.000 ha, cung cấp hơn 550.000 tấn cà phê nhân mỗi năm; đồng thời sở hữu trên 68.300 ha cây ăn quả giá trị cao như sầu riêng, bơ song phần lớn nông sản vẫn xuất khẩu ở dạng thô hoặc sơ chế đơn giản. Sự đứt gãy giữa các mắt xích: sản xuất – chế biến – logistics – tiêu thụ đang triệt tiêu lợi thế của nông nghiệp công nghệ cao.
Sự thiếu vắng các trung tâm chế biến sâu và hệ thống logistics chuyên dụng cho nông nghiệp khiến tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch luôn ở mức báo động. Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc (FAO), khoảng 13,2% sản lượng lương thực thực phẩm toàn cầu bị thất thoát trước khâu bán lẻ. Tại địa bàn có sản lượng nông sản khổng lồ như Đắk Lắk, việc thiếu hạ tầng kho lạnh, chuỗi cung ứng lạnh bảo quản nông sản khiến giá trị gia tăng bị hao hụt nghiêm trọng.
![]() |
| Nhà máy ấp nở trứng gia cầm của Công ty Japfa Comfeed. |
Nút thắt này càng thắt chặt hơn khi chi phí logistics của Việt Nam đang chiếm tới 16,8% GDP (theo số liệu từ Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam – VLA), cao hơn nhiều so với mức trung bình 10,7% của thế giới. Điều này gián tiếp bóp nghẹt năng lực cạnh tranh về giá của nông sản Đắk Lắk trên thị trường quốc tế.
Phân tích sâu về điểm nghẽn này, TS. Nguyễn Thanh Hân, Chủ tịch Hiệp hội Logistics và Cảng biển tỉnh Đắk Lắk nhận định: Hiệu quả của nông nghiệp công nghệ cao không chỉ phụ thuộc vào trình độ công nghệ ở khâu trồng trọt hay chăn nuôi mà phụ thuộc rất lớn vào mức độ liên kết chuỗi giá trị. Nếu hệ thống logistics vận hành rời rạc, không có các chuỗi cung ứng tích hợp bảo đảm nghiêm ngặt về thời gian vận chuyển, nhiệt độ bảo quản và truy xuất nguồn gốc thì mọi thành tựu năng suất ở khâu sản xuất đều bị triệt tiêu bởi chi phí lưu thông cao và tổn thất sau thu hoạch lớn.
Rõ ràng, để nông nghiệp công nghệ cao tại Đắk Lắk chuyển hóa từ “tiềm năng” thành “sức mạnh” kinh tế, ngành nông nghiệp địa phương không thể tiếp tục loay hoay với tư duy “giải cứu” hay sản xuất nhỏ lẻ. Đắk Lắk phải có những bước đi chiến lược hơn: xây dựng các khu định hướng công nghệ cao đồng bộ, hạ tầng logistics kết nối thẳng từ vùng nguyên liệu cao nguyên đến các cảng biển ven biển, tạo nên một chuỗi giá trị khép kín, an toàn và bền vững.
Thuận Nguyễn
Nguồn: Báo Đắk Lắk điện tử







