spot_img
spot_img

Bước tiến đột phá trong điều trị vô sinh

Tham gia Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk lần thứ X (2024 – 2025), ThS.BS Lê Huy Khải cùng các cộng sự tại Đơn vị hỗ trợ sinh sản (khoa Phụ sản, Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột) đã mang đến hai giải pháp y học đặc biệt xuất sắc thuộc lĩnh vực y dược: “Ứng dụng kỹ thuật sinh thiết phôi trong điều trị vô sinh ở bệnh nhân có bất thường di truyền” và “Áp dụng kỹ thuật TESE-ICSI trong điều trị vô sinh không tinh trùng”.

Việc ứng dụng thành công kỹ thuật sinh thiết phôi (PGT) và trích tinh trùng từ mô tinh hoàn kết hợp tiêm vào bào tương noãn (TESE-ICSI) ngay tại Đắk Lắk đã giúp hiện thực hóa giấc mơ làm cha mẹ của hàng nghìn cặp vợ chồng vô sinh hiếm muộn.





ThS.BS. Lê Huy Khải kiểm tra phôi.
ThS.BS. Lê Huy Khải kiểm tra phôi.

Sàng lọc di truyền tiền làm tổ (PGT) từ lâu đã được xem là “chiếc kính hiển vi thần kỳ” trong hỗ trợ sinh sản trên thế giới. Tuy nhiên, đối với Đắk Lắk, việc tiếp cận công nghệ này trước đây là một bài toán nan giải cả về mặt địa lý lẫn chi phí. Đề tài “Ứng dụng kỹ thuật sinh thiết phôi trong điều trị vô sinh ở bệnh nhân có bất thường di truyền” của bác sĩ Lê Huy Khải và các cộng sự đã giải quyết triệt để bài toán này khi lần đầu tiên chuẩn hóa và triển khai thành công quy trình PGT ngay tại Đắk Lắk.

Theo đó, với việc phối hợp chặt chẽ giữa bác sĩ lâm sàng, chuyên gia di truyền và chuyên viên phôi học, quy trình đã ứng dụng công nghệ giải trình tự thế hệ mới (NGS) giúp phân tích toàn diện bộ di truyền của phôi nang (ngày 5 hoặc ngày 6). Qua đó phân loại chính xác các trường hợp lệch bội nhiễm sắc thể (PGT-A), phát hiện các bệnh lý đơn gen nguy hiểm như Thalassemia, Hemophilia, SMA (PGT-M) hay sàng lọc bất thường cấu trúc nhiễm sắc thể (PGT-SR).





Rửa mô tinh hoàn trước khi đưa vào labo để tìm tinh trùng.
Rửa mô tinh hoàn trước khi đưa vào labo để tìm tinh trùng.

Ý nghĩa cốt lõi của giải pháp này nằm ở chỗ, thay vì chuyển phôi một cách ngẫu nhiên, các bác sĩ có thể chủ động chọn lựa những phôi khỏe mạnh nhất, không mang gen bệnh để chuyển vào tử cung người mẹ. Điều này giúp tối ưu hóa chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm (IVF), nâng cao tỷ lệ sinh sống khỏe mạnh, giảm thiểu gánh nặng đau đớn từ việc sảy thai liên tiếp hay đình chỉ thai kỳ do dị tật bẩm sinh, góp phần quan trọng vào mục tiêu cải thiện chất lượng dân số của toàn tỉnh.

Bên cạnh những bất thường từ phía người mẹ hoặc phôi, vô sinh nam cũng chiếm tới 40-50% nguyên nhân của các cặp vợ chồng hiếm muộn. Đáng sợ nhất trong số đó là tình trạng vô tinh (không có tinh trùng trong tinh dịch) – hội chứng từng bị coi là “bản án” tước đi quyền làm cha tự thân của người đàn ông. Đối mặt với thách thức đó, nhóm các bác sĩ đã có giải pháp “Áp dụng kỹ thuật TESE-ICSI trong điều trị vô sinh không tinh trùng”.

Nguyên lý của giải pháp là sự kết hợp bắt buộc giữa thủ thuật ngoại khoa trích tinh trùng trực tiếp từ mô tinh hoàn (TESE) và kỹ thuật vi tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI). Do tinh trùng thu nhận từ mô tinh hoàn thường rất ít, yếu hoặc thậm chí bất động hoàn toàn, phương pháp thụ tinh ống nghiệm cổ điển không thể thực hiện được. Tại Đơn vị hỗ trợ sinh sản (khoa Phụ sản, Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột), các chuyên viên phôi học đã vận dụng kỹ thuật để chọn lọc từng tinh trùng đơn lẻ, khỏe mạnh nhất, ứng dụng các công nghệ như laser hoặc môi trường HOST để đánh giá sức sống, rồi dùng kim vi tiêm cực nhỏ đưa trực tiếp vào trứng.

Giải pháp mở ra cơ hội vàng giúp những nam giới mắc chứng vô tinh bế tắc (OA) hoặc vô tinh không do bế tắc (NOA) có thể sinh con bằng chính nguồn gen tự thân của mình, chấm dứt tình trạng phải xin tinh trùng từ người hiến tặng hoặc nhận con nuôi.

Các giải pháp nói trên đã được triển khai tại Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột và mang lại hiệu quả tích cực. Trong 4 năm qua, Đơn vị hỗ trợ sinh sản (khoa Phụ sản, Bệnh viện Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột) đã thực hiện 68 ca TESE, tìm thấy tinh trùng ở 52 trường hợp, đạt tỷ lệ 76,5%. Đơn vị đã tiếp nhận 34.636 lượt khám, thực hiện 1.324 chu kỳ IVF, 1.756 chu kỳ chuyển phôi với tỷ lệ thành công khoảng 60%. Thành công từ hoạt động nghiên cứu khoa học nói trên đã giúp hơn 700 trẻ chào đời từ các cặp vợ chồng vô sinh hiếm muộn.

Đoàn Văn Thanh

 

 

Nguồn: Báo Đắk Lắk điện tử

CÙNG CHUYÊN MỤC

spot_imgspot_img
spot_imgspot_img
spot_imgspot_img
spot_imgspot_img

MỚI NHẤT

Không chủ quan với bệnh viêm loét dạ dày

Đừng để sau những cuộc vui là hậu quả

Phục dựng, số hóa để trao truyền di sản