spot_img
spot_img

Hoàn thiện pháp luật về chính phủ số và dữ liệu mở tại Việt Nam

Tóm tắt: Chính phủ số và dữ liệu mở là hai trụ cột quan trọng của quá trình chuyển đổi số quốc gia, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị nhà nước, thúc đẩy minh bạch và tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã từng bước xây dựng khung pháp lý cho phát triển chính phủ số và quản trị dữ liệu, tiêu biểu như Luật Dữ liệu năm 2025, Luật Giao dịch điện tử sửa đổi, các nghị định về cơ sở dữ liệu quốc gia và chia sẻ dữ liệu. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế như thiếu đồng bộ, thiếu cơ chế chia sẻ dữ liệu mở và chưa có quy định đầy đủ về quản trị dữ liệu công. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật về chính phủ số và dữ liệu mở tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý, góp phần thúc đẩy phát triển chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.

Từ khóa: Chính phủ số, dữ liệu mở, pháp luật dữ liệu, chuyển đổi số, quản trị dữ liệu.

mh 6a6805161f8c6
Ảnh minh họa – TL

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, dữ liệu đã trở thành nguồn tài nguyên quan trọng đối với quản trị nhà nước và phát triển kinh tế – xã hội. Việc xây dựng chính phủ số dựa trên khai thác hiệu quả dữ liệu giúp nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công, tăng tính minh bạch và cải thiện năng lực điều hành của bộ máy nhà nước. Ở Việt Nam, chiến lược chuyển đổi số quốc gia xác định dữ liệu là nền tảng cốt lõi của chính phủ số. Dữ liệu không chỉ phục vụ quản lý nhà nước mà còn là nguồn lực quan trọng cho đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế số.

Nhằm tạo nền tảng pháp lý cho quản trị dữ liệu, Việt Nam đã ban hành Luật Dữ liệu (2025) – đạo luật chuyên biệt đầu tiên điều chỉnh hoạt động xây dựng, phát triển, quản trị và khai thác dữ liệu. Luật này được xem là bước ngoặt quan trọng trong việc phát triển quốc gia số và thúc đẩy chính phủ số.

Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về dữ liệu và chính phủ số tại Việt Nam vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, còn nhiều khoảng trống cần được nghiên cứu và điều chỉnh.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH PHỦ SỐ VÀ DỮ LIỆU MỞ

1. Khái niệm chính phủ số: Chính phủ số là mô hình quản trị nhà nước dựa trên công nghệ số và dữ liệu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan công quyền, cung cấp dịch vụ công trực tuyến và tăng cường tương tác với người dân, doanh nghiệp.

Khác với chính phủ điện tử, chính phủ số không chỉ số hóa quy trình hành chính mà còn dựa vào dữ liệu và công nghệ để thay đổi phương thức quản trị nhà nước.

Các đặc trưng cơ bản của chính phủ số gồm: Quản trị dựa trên dữ liệu; Dịch vụ công trực tuyến toàn trình; Hệ sinh thái số giữa nhà nước – doanh nghiệp – người dân; Hạ tầng dữ liệu quốc gia và nền tảng chia sẻ dữ liệu.

2. Khái niệm dữ liệu mở: Dữ liệu mở là dữ liệu được cơ quan nhà nước công bố để mọi tổ chức, cá nhân có thể truy cập, sử dụng, tái sử dụng và chia sẻ mà không bị hạn chế, trừ các dữ liệu thuộc diện bí mật hoặc cần bảo vệ. Theo các tiêu chuẩn quốc tế, dữ liệu mở cần đảm bảo: truy cập tự do, định dạng mở, có giấy phép sử dụng rõ ràng, khả năng tái sử dụng và liên thông dữ liệu.

Khung pháp lý về dữ liệu mở thường quy định các yếu tố như tiêu chuẩn công bố dữ liệu, trách nhiệm của cơ quan nhà nước, định dạng dữ liệu và giấy phép sử dụng dữ liệu.

TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHÍNH PHỦ SỐ VÀ DỮ LIỆU MỞ

Việc hoàn thiện pháp luật về Chính phủ số và dữ liệu mở là yếu tố then chốt quyết định sự thành công của công cuộc chuyển đổi số quốc gia tại Việt Nam. Đây không chỉ là công cụ quản lý mà còn là nền tảng tạo động lực phát triển kinh tế và nâng cao chỉ số tín nhiệm quốc gia.

1. Kiến tạo hành lang pháp lý đồng bộ:

a. Xóa bỏ xung đột pháp luật: Đồng bộ hóa hệ thống luật hiện hành. Khắc phục sự chồng chéo giữa Luật Giao dịch điện tử, Luật An toàn thông tin mạng và Luật Viễn thông.

b. Định hình không gian số: Quy định rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan nhà nước trên môi trường mạng.

c. Chuẩn hóa quy trình vận hành: Tạo cơ sở pháp lý để chuyển đổi hoàn toàn từ văn bản giấy sang hồ sơ điện tử có giá trị pháp lý tương đương.

2. Thúc đẩy kinh tế số và đổi mới sáng tạo:

a. Giải phóng nguồn tài nguyên dữ liệu: Dữ liệu mở là “dầu mỏ” của nền kinh tế số. Luật hóa việc chia sẻ dữ liệu giúp doanh nghiệp tiếp cận thông tin để phát triển AI, Big Data và các giải pháp công nghệ.

b. Tăng giá trị thương mại: Tạo dòng chảy dữ liệu an toàn. Khuyến khích khu vực tư nhân tham gia đầu tư, khai thác và tái sử dụng dữ liệu công.

c. Kích thích khởi nghiệp: Giảm chi phí nghiên cứu thị trường cho các doanh nghiệp công nghệ nhờ nguồn dữ liệu mở đáng tin cậy từ Chính phủ.

3. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước:

a. Tối ưu hóa ra quyết định: Giúp các cơ quan hoạch định chính sách dựa trên dữ liệu thực tế (Data-driven) thay vì cảm tính.

b. Xóa bỏ các “ốc đảo dữ liệu”: Bắt buộc các bộ, ngành, địa phương phải kết nối, liên thông dữ liệu. Tránh tình trạng lãng phí ngân sách do thu thập trùng lặp.

c. Cải cách thủ tục hành chính: Cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình. Người dân chỉ cần cung cấp thông tin một lần duy nhất cho cơ quan nhà nước.

3. Gia tăng minh bạch và củng cố niềm tin của người dân:

a. Thúc đẩy giám sát xã hội: Người dân, báo chí và chuyên gia có thể dễ dàng tiếp cận, giám sát hoạt động của chính phủ qua dữ liệu mở.

b. Phòng chống tham nhũng: Công khai ngân sách, đầu tư công và thủ tục đất đai giúp giảm thiểu tối đa tiêu cực, nhũng nhiễu.

c. Tương tác song phương: Tạo kênh phản hồi số hóa trực tiếp. Nâng cao tính giải trình của chính quyền trước nhân dân.

4. Đảm bảo an ninh quốc gia và hội nhập quốc tế:

a. Bảo vệ chủ quyền số: Quy định rõ ràng về lưu trữ dòng dữ liệu xuyên biên giới. Bảo vệ dữ liệu cá nhân của công dân Việt Nam trước các rủi ro toàn cầu.

b. Xây dựng hàng rào kỹ thuật: Thiết lập tiêu chuẩn bảo mật tối cao cho các hạ tầng dữ liệu quốc gia cốt lõi.

c. Nâng cao năng lực cạnh tranh: Đạt chuẩn các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (như CPTPP, EVFTA). Nâng hạng chỉ số Chính phủ điện tử (EGDI) của Việt Nam trên bản đồ thế giới.

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHÍNH PHỦ SỐ VÀ DỮ LIỆU MỞ TẠI VIỆT NAM

1. Hệ thống văn bản pháp luật liên quan: Trong những năm gần đây, Việt Nam đã từng bước xây dựng hệ thống pháp luật phục vụ chuyển đổi số và chính phủ số, bao gồm:

– Luật Dữ liệu năm 2025: Luật này quy định về xây dựng và quản trị dữ liệu, trung tâm dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, sản phẩm và dịch vụ dữ liệu, quản lý nhà nước về dữ liệu. Luật này được xem là nền tảng pháp lý quan trọng cho phát triển chính phủ số.

– Luật Giao dịch điện tử (sửa đổi): Luật quy định về: giao dịch điện tử trong cơ quan nhà nước, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, xác thực điện tử và định danh số.

– Khung kiến trúc quốc gia số: Chính phủ đã ban hành các văn bản quy định về khung kiến trúc chính phủ số, làm cơ sở triển khai các hệ thống dữ liệu và nền tảng số trong cơ quan nhà nước. Khung kiến trúc này định hướng kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ sở dữ liệu quốc gia, bộ ngành và địa phương.

– Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia: Quyết định năm 2025 ban hành khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, xác định cấu trúc, tiêu chuẩn kỹ thuật và mô hình chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống dữ liệu của nhà nước.

2. Kết quả đạt được:

Khung pháp lý cơ bản đã hình thành: Luật Giao dịch điện tử (sửa đổi), Luật An toàn thông tin mạng, Luật An ninh mạng, cùng các Nghị định như Nghị định số 47/2020/NĐ-CP về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước đã tạo nền móng ban đầu.

Nhận thức và hạ tầng được nâng cao: Hệ thống cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia về Dân cư, Đăng ký doanh nghiệp, Bảo hiểm… đã bước đầu kết nối thông qua Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia (NDXP). Cổng dữ liệu quốc gia (data.gov.vn) đã được vận hành để công khai dữ liệu mở.

3. Hạn chế và bất cập:

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả, hệ thống pháp luật về chính phủ số và dữ liệu mở vẫn còn một số hạn chế:

– Thiếu luật khung chuyên số: Việt Nam chưa có một đạo luật riêng quy định toàn diện về Chính phủ số và Dữ liệu mở. Các quy định hiện nằm rải rác ở nhiều văn bản luật khác nhau, dẫn đến thiếu tính đồng bộ.

– Cơ chế chia sẻ dữ liệu còn mang tính “khép kín”: Các bộ, ngành, địa phương vẫn có tâm lý “cục bộ thông tin”, coi dữ liệu là tài sản riêng của cơ quan mình, e ngại chia sẻ hoặc thiếu quy trình kỹ thuật tiêu chuẩn để chia sẻ.

– Khái niệm “Dữ liệu mở” chưa được định nghĩa pháp lý rõ ràng: Chưa có tiêu chí phân loại cụ thể dữ liệu nào bắt buộc phải mở, dữ liệu nào mở có điều kiện, và dữ liệu nào bảo mật.

– Xung đột giữa “Mở dữ liệu” và “Bảo vệ quyền riêng tư”: Hành lang pháp lý về bảo vệ dữ liệu cá nhân (như Nghị định 13/2023/NĐ-CP) và bảo mật thông tin chưa có sự kết nối hài hòa với quy định về dữ liệu mở, dễ dẫn đến rủi ro lộ lọt thông tin hoặc ngược lại là tâm lý “đóng cửa” dữ liệu để an toàn.

– Thiếu cơ chế tài chính và thương mại hóa dữ liệu: Chưa có quy định pháp lý về giá trị kinh tế của dữ liệu, cơ chế thu phí/định giá khi khai thác dữ liệu từ phía doanh nghiệp, dẫn đến lãng phí tài nguyên.

ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

Trong kỷ nguyên Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, Chính phủ số và dữ liệu mở (Open Data) đóng vai trò là động lực cốt lõi để đổi mới mô hình quản trị quốc gia. Dữ liệu được ví như “dầu mỏ mới”, là tài nguyên chiến lược phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.

Tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương lớn như Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030.

Tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện hành vẫn đang bộc lộ nhiều điểm nghẽn, khoảng trống và sự chồng chéo, chưa tạo ra hành lang pháp lý đủ mạnh để thúc đẩy chia sẻ, khai thác dữ liệu mở một cách an toàn và hiệu quả. Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật về Chính phủ số và dữ liệu mở là yêu cầu cấp bách hiện nay.

Để giải quyết triệt để các bất cập trên, cần thực hiện đồng bộ 5 nhóm giải pháp cụ thể sau:

1. Ban hành Luật Chính phủ số và Luật Dữ liệu:

Xây dựng Luật Chính phủ số: Luật hóa các nguyên tắc vận hành của cơ quan nhà nước trên môi trường số; quy định rõ nghĩa vụ “số hóa mặc định” (Digital by truyền thống) đối với mọi thủ tục hành chính.

Xây dựng Luật Dữ liệu: Quy định rõ dữ liệu là một loại tài sản đặc thù. Xác lập quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng đối với dữ liệu của Nhà nước, doanh nghiệp và cá nhân.

2. Chuẩn hóa quy định về cấu trúc và phân loại Dữ liệu mở:

– Luật hóa nguyên tắc “Mở mặc định” (Open by Default): Quy định mọi dữ liệu do cơ quan nhà nước tạo ra (không thuộc danh mục bí mật nhà nước) đều phải được công khai dưới dạng dữ liệu mở cho người dân và doanh nghiệp tự do khai thác.

– Ban hành Tiêu chuẩn kỹ thuật pháp lý: Quy định định dạng của dữ liệu mở phải là định dạng máy có thể đọc được (như CSV, JSON, XML), thay vì các định dạng đóng (như PDF quét văn bản).

– Xây dựng Danh mục dữ liệu mở quốc gia tối thiểu: Quy định bắt buộc các lĩnh vực như giao thông, khí tượng thủy văn, y tế, giáo dục, kinh tế vĩ mô phải công khai dữ liệu theo định kỳ.

3. Hoàn thiện cơ chế chia sẻ, kết nối liên thông dữ liệu:

– Bỏ cơ chế “Xin – Cho” dữ liệu: Chuyển từ cơ chế ký biên bản thỏa thuận chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành sang cơ chế bắt buộc kết nối liên thông thông qua trục NDXP theo quy định của pháp luật.

– Quy định chế tài nghiêm khắc: Áp dụng hình thức xử lý kỷ luật đối với người đứng đầu cơ quan, đơn vị cố tình trì hoãn, không thực hiện chia sẻ dữ liệu theo phân cấp.

4. Hài hòa hóa giữa thúc đẩy Dữ liệu mở và Bảo vệ dữ liệu cá nhân:

Kỹ thuật ẩn danh hóa bắt buộc: Quy định rõ trong văn bản quy phạm pháp luật về quy trình, tiêu chuẩn kỹ thuật loại bỏ thông tin định danh cá nhân (PII) trước khi đưa dữ liệu vào kho dữ liệu mở.

– Phân định rõ trách nhiệm pháp lý: Quy định miễn trừ trách nhiệm cho cơ quan nhà nước nếu dữ liệu đã được ẩn danh đúng quy trình pháp luật nhưng bị các bên thứ ba dùng công nghệ cao để tái định danh cố ý.

5. Xây dựng hành lang pháp lý cho Kinh tế dữ liệu:

– Quy định cơ chế định giá và thu phí dữ liệu: Cho phép cơ quan nhà nước thu một khoản phí hợp lý (phí hạ tầng, phí truy xuất cao cấp qua API tốc độ cao) đối với các doanh nghiệp khai thác dữ liệu mở nhằm mục đích thương mại, phục vụ tái đầu tư hạ tầng.

– Thành lập Cơ quan quản lý dữ liệu độc lập (Data Authority): Mô hình này giúp điều phối, giám sát việc thực thi pháp luật về dữ liệu, giải quyết tranh chấp về dữ liệu giữa các bên.

Hoàn thiện pháp luật về Chính phủ số và dữ liệu mở không chỉ đơn thuần là việc sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật, mà là một cuộc cách mạng về tư duy quản lý: Chuyển từ tư duy “quản lý, đóng kín” sang tư duy “phục vụ, kiến tạo và mở”.Việc triển khai nhanh chóng, đồng bộ các giải pháp lập pháp nêu trên sẽ giúp Việt Nam tối ưu hóa nguồn tài nguyên dữ liệu, tạo động lực mạnh mẽ cho kinh tế số, đồng thời nâng cao tính minh bạch và năng lực cạnh tranh quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu.

LUẬT DỮ LIỆU – NỀN TẢNG THÚC ĐẨY CHUYỂN ĐỔI SỐ QUỐC GIA

Luật Dữ liệu có hiệu lực từ 01/7/2026 là một dấu mốc quan trọng, thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong việc xây dựng nền tảng pháp lý vững chắc để quản lý, bảo vệ và khai thác hiệu quả dữ liệu – tài sản chiến lược của quốc gia trong kỷ nguyên số. Đây cũng là bước tiến quan trọng trong việc định hình chính sách quản lý dữ liệu số tại Việt Nam với mục tiêu bảo đảm an ninh, bảo vệ quyền lợi của chủ thể dữ liệu và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế số.

Một trong những mục tiêu quan trọng của Luật Dữ liệu là xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia và các trung tâm dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước. Luật cũng quy định rõ ràng về việc quản lý dữ liệu trong khu vực tư nhân, bao gồm các sản phẩm và dịch vụ liên quan đến dữ liệu. Điều này tạo cơ sở pháp lý cụ thể cho các ngân hàng và doanh nghiệp công nghệ thông tin trong việc thu thập, xử lý và bảo vệ dữ liệu khách hàng; là hành lang pháp lý thúc đẩy mạnh mẽ đổi mới sáng tạo, đưa dữ liệu trở thành tài sản có thể luân chuyển, tạo giá trị cho mọi chủ thể trong nền kinh tế. Đây cũng là nền móng thể chế quan trọng nhất để doanh nghiệp công nghệ tư nhân như 1Matrix, PILA chủ động đóng góp và đồng hành trên hành trình kiến tạo tương lai số.

Kết luận

Chính phủ số và dữ liệu mở là xu hướng tất yếu trong quá trình chuyển đổi số quốc gia. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ trong việc xây dựng khung pháp lý cho quản trị dữ liệu và phát triển chính phủ số. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật vẫn cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu của thời đại số.

Việc xây dựng luật về dữ liệu mở, tăng cường cơ chế chia sẻ dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân và áp dụng cơ chế thử nghiệm chính sách sẽ góp phần hoàn thiện khung pháp lý cho chính phủ số tại Việt Nam. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả quản trị nhà nước mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế số và xã hội số trong tương lai./.

ThS Phạm Ngọc Huân

—————————-

Tài liệu tham khảo:

  1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII: Đảng Cộng sản Việt Nam, định hướng đẩy mạnh xây dựng Chính phủ điện tử, tiến tới Chính phủ số.
  2. Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị: về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
  3. Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15: Quy định trực tiếp các yếu tố nền tảng tạo lập giá trị pháp lý cho dữ liệu số và giao dịch số.
  4. Luật Tiếp cận thông tin năm 2016: Xác lập quyền hiến định của công dân trong tiếp cận thông tin công, nền tảng tư tưởng của dữ liệu mở.
  5. Luật Dữ liệu vừa ban hành, có hiệu lực từ 01/7/2026
  6. Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ quy định về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước
  7. Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030.



Nguồn: Việt Nam Hội Nhập

CÙNG CHUYÊN MỤC

spot_imgspot_img
spot_imgspot_img
spot_imgspot_img
spot_imgspot_img

MỚI NHẤT