spot_img
spot_img

Đẩy nhanh tiến độ xây dựng pháp luật: Tốc độ lập pháp phải đi cùng chất lượng pháp luật

Việc Văn phòng Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ khẩn trương hoàn thiện 20 dự án luật, nghị quyết để trình Quốc hội cho thấy yêu cầu ngày càng cao đối với tiến độ xây dựng pháp luật trong năm 2026. Tuy nhiên, đẩy nhanh tiến độ không chỉ là câu chuyện rút ngắn thời gian soạn thảo, thẩm định, hoàn thiện hồ sơ, mà quan trọng hơn là bảo đảm mỗi đạo luật khi được ban hành phải có chất lượng, tính thống nhất, khả thi và đủ năng lực giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra. Đây cũng là phép thử đối với năng lực quản trị pháp luật và trách nhiệm của cơ quan chủ trì trong toàn bộ chu trình từ xây dựng đến tổ chức thi hành.

0196aa3c12 6aa2194ab24cd
Ảnh minh họa – TL

Ngày 9/9/2026, Văn phòng Chính phủ ban hành Văn bản số 9164/VPCP-PL gửi Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ về việc hoàn thiện, trình Quốc hội các dự án luật, nghị quyết. Động thái này được thực hiện theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ nhằm đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hồ sơ các dự án đã được Chính phủ xem xét, cho ý kiến, đồng thời chuẩn bị nội dung cho Phiên họp Chính phủ chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 9/2026.

Theo yêu cầu, 12 dự án luật phải khẩn trương tiếp thu ý kiến của Chính phủ tại các nghị quyết về phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật tháng 8/2026. Cùng với đó, 8 dự án luật, nghị quyết khác phải được hoàn thiện hồ sơ, trình Chính phủ trước ngày 13/9/2026. Như vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là “làm nhanh”, mà là phải tổ chức đồng thời nhiều công đoạn pháp lý với thời hạn rất cụ thể, từ tiếp thu, giải trình, chỉnh lý đến thẩm định và hoàn thiện hồ sơ trình cấp có thẩm quyền.

Tốc độ lập pháp phải đi cùng chất lượng pháp luật

Danh mục 20 dự án luật, nghị quyết lần này bao phủ nhiều lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế – xã hội. Trong số 12 dự án được yêu cầu khẩn trương hoàn thiện có các dự án liên quan đến bảo hiểm xã hội, an toàn vệ sinh lao động, thuế tài nguyên, đấu thầu, bảo vệ môi trường, tài nguyên và môi trường biển, an toàn thực phẩm, giao dịch hàng hóa phái sinh, sở hữu trí tuệ, phát triển công nghiệp văn hóa và văn bản quy phạm pháp luật.

Tám dự án, nghị quyết chuẩn bị cho Phiên họp Chính phủ chuyên đề tháng 9 cũng bao gồm những lĩnh vực có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quản trị quốc gia và phát triển kinh tế – xã hội như ngân sách nhà nước, đầu tư, kinh doanh bất động sản, nhà ở, tổ chức cơ quan điều tra hình sự, thực hiện dân chủ ở cơ sở và đất đai.

Có thể thấy, khối lượng công việc là rất lớn và phạm vi điều chỉnh của các dự án đều liên quan đến những lĩnh vực phức tạp, thường xuyên phát sinh quan hệ lợi ích đan xen. Vì vậy, bài toán đặt ra không đơn thuần là bảo đảm một mốc thời gian hành chính, mà là làm thế nào để quá trình rút ngắn thời gian không kéo theo việc giản lược các bước đánh giá tác động, thẩm định, phản biện chính sách hoặc làm giảm chất lượng kỹ thuật lập pháp.

Đây là điểm cần đặc biệt lưu ý trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh đổi mới tư duy xây dựng và thi hành pháp luật. Một đạo luật tốt không được đo bằng số lượng điều khoản hay tốc độ hoàn thành dự thảo, mà bằng khả năng giải quyết đúng vấn đề, tạo ra khuôn khổ pháp lý minh bạch, ổn định và có thể thực thi trong thực tế.

Nói cách khác, yêu cầu “đẩy nhanh” phải được hiểu là tăng tốc quy trình nhưng không hạ thấp chuẩn mực pháp lý.

Thực tế thời gian qua cho thấy, một trong những điểm nghẽn của hệ thống pháp luật không chỉ nằm ở việc ban hành luật chậm mà còn ở tình trạng văn bản quy định chi tiết ban hành chưa kịp thời. Ngay từ đầu năm 2026, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã nhiều lần yêu cầu khắc phục tình trạng chậm, nợ văn bản quy định chi tiết, coi đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực và hiệu quả của luật.

Điều đó cho thấy chất lượng của một đạo luật không thể tách rời chất lượng của toàn bộ chuỗi văn bản và hoạt động tổ chức thi hành phía sau. Nếu luật được thông qua đúng thời hạn nhưng nghị định, thông tư hướng dẫn chậm ban hành, hoặc quy định mới thiếu tính khả thi, thì mục tiêu cải cách pháp luật vẫn chưa đạt được đầy đủ.

Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, “tiến độ lập pháp” cần được nhìn nhận theo một nghĩa rộng hơn: đó là tiến độ từ xác định vấn đề chính sách – xây dựng dự thảo – thẩm định – trình, thông qua – ban hành văn bản hướng dẫn – tổ chức thi hành – kiểm tra, đánh giá và tiếp tục hoàn thiện pháp luật.

Siết trách nhiệm người đứng đầu, nâng chất lượng từ khâu đầu tiên

Một điểm đáng chú ý trong yêu cầu mới là trách nhiệm được đặt trực tiếp lên Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Văn bản của Văn phòng Chính phủ yêu cầu các bộ khẩn trương hoàn thiện hồ sơ và chịu trách nhiệm về chất lượng, tiến độ trình các dự án luật, nghị quyết. Bộ Tư pháp được yêu cầu sớm tổ chức thẩm định, hoàn thiện báo cáo thẩm định và đẩy nhanh việc rà soát nội dung tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định.

Cách tiếp cận này phản ánh một chuyển biến quan trọng trong quản trị công tác xây dựng pháp luật: trách nhiệm không dừng ở tập thể soạn thảo mà phải gắn với trách nhiệm quản lý và trách nhiệm giải trình của người đứng đầu.

Đây là yêu cầu cần thiết bởi pháp luật càng có tác động rộng thì chất lượng của chính sách ban đầu càng quyết định hiệu quả của văn bản cuối cùng. Nếu vấn đề chính sách được nhận diện chưa đúng, đánh giá tác động chưa đầy đủ hoặc chưa tham vấn được đầy đủ đối tượng chịu sự tác động thì những hạn chế ấy rất khó được khắc phục hoàn toàn ở giai đoạn kỹ thuật lập pháp.

Do đó, muốn đẩy nhanh tiến độ mà vẫn bảo đảm chất lượng, cần thay đổi cách tổ chức công việc theo hướng chuẩn bị từ sớm. Cơ quan chủ trì không nên chờ đến khi dự án luật được đưa vào chương trình hoặc đến sát thời hạn trình mới tập trung nguồn lực, mà phải xây dựng “đường găng pháp lý” ngay từ đầu: vấn đề cần giải quyết là gì, chính sách nào cần lựa chọn, nhóm đối tượng nào chịu tác động, những quy định hiện hành nào cần sửa đổi, những văn bản dưới luật nào sẽ phải ban hành sau khi luật được thông qua.

Đặc biệt, đối với các dự án có phạm vi điều chỉnh lớn như Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Đấu thầu hay Luật Bảo vệ môi trường, việc đánh giá tác động chính sách cần được xem là một công đoạn thực chất chứ không phải thủ tục để hoàn thiện hồ sơ.

Một chính sách tốt phải trả lời được ít nhất ba câu hỏi: vấn đề hiện nay là gì; quy định mới giải quyết vấn đề đó bằng cách nào; và chi phí xã hội của việc thực hiện quy định mới có tương xứng với lợi ích mang lại hay không?

Khi những câu hỏi này được trả lời rõ ràng từ đầu, quá trình tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự án luật sẽ giảm được vòng lặp, hạn chế tình trạng sửa đổi nhiều lần do phát sinh những vấn đề đáng lẽ phải được nhận diện ở giai đoạn chính sách.

Đây cũng là cơ sở để nâng cao hiệu quả phối hợp giữa cơ quan chủ trì soạn thảo, Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan của Quốc hội.

Thực tiễn cho thấy, một trong những nguyên nhân khiến tiến độ xây dựng văn bản bị kéo dài là quá trình phối hợp chưa thật sự đồng bộ, trong đó có những vấn đề chỉ được phát hiện khi hồ sơ đã ở giai đoạn cuối. Bởi vậy, tăng cường trao đổi sớm giữa các cơ quan không làm chậm tiến độ mà ngược lại có thể giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý về sau.

Từ “ban hành luật” đến bảo đảm luật đi vào cuộc sống

Điểm cốt lõi của đổi mới công tác xây dựng pháp luật hiện nay không chỉ nằm ở việc có thêm những đạo luật mới, mà là xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận và có khả năng thực thi cao.

Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng khi số lượng luật cần sửa đổi, bổ sung trong thời gian ngắn ngày càng nhiều. Việc liên tục sửa luật có thể là cần thiết để đáp ứng yêu cầu phát triển, nhưng nếu thiếu một tầm nhìn tổng thể, hệ thống pháp luật có nguy cơ trở nên thiếu ổn định, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp trong việc dự đoán và tuân thủ pháp luật.

Chính vì vậy, mỗi dự án luật trong danh mục 20 dự án lần này cần được đặt trong mối quan hệ với toàn bộ hệ thống pháp luật hiện hành.

Chẳng hạn, sửa đổi pháp luật về đất đai không thể chỉ nhìn từ góc độ quản lý đất đai mà phải tính đến sự liên thông với đầu tư, xây dựng, nhà ở, kinh doanh bất động sản, quy hoạch, tài chính đất đai và môi trường. Tương tự, sửa đổi Luật Đấu thầu phải được đặt trong mối quan hệ với pháp luật về đầu tư công, ngân sách, quản lý tài sản công và các quy định chuyên ngành.

Đây chính là yêu cầu về tính hệ thống của pháp luật. Một quy định dù hợp lý trong phạm vi một đạo luật nhưng nếu xung đột với luật khác thì khi áp dụng sẽ phát sinh cách hiểu khác nhau, làm tăng chi phí tuân thủ và tạo rủi ro pháp lý.

Trong bối cảnh đó, việc Chính phủ tiếp tục yêu cầu tổng rà soát hệ thống văn bản, xử lý các quy định chồng chéo, nhất là trong các lĩnh vực đất đai, quy hoạch, đầu tư, xây dựng, đấu thầu, môi trường và tài sản công, cho thấy xây dựng pháp luật đang được tiếp cận theo hướng hệ thống hơn.

Một yêu cầu khác cũng cần được đặt ra là phải gắn quá trình xây dựng luật với việc chuẩn bị văn bản quy định chi tiết. Trước đó, Chính phủ đã yêu cầu hồ sơ dự án luật trình Chính phủ phải báo cáo cụ thể những nội dung dự kiến giao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, cơ quan ngang bộ quy định chi tiết; đồng thời phải xác định rõ cơ quan chủ trì, nội dung cơ bản và dự kiến thời hạn ban hành.

Cách làm này có ý nghĩa rất lớn trong việc ngăn ngừa “khoảng trống pháp lý” sau khi luật được thông qua.

Một đạo luật chỉ thực sự có giá trị khi người dân, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước có thể biết phải làm gì, làm như thế nào và căn cứ vào đâu để thực hiện. Vì vậy, văn bản hướng dẫn thi hành không thể được xem là “phần việc sau” của quá trình lập pháp mà phải được tính toán ngay từ khi thiết kế chính sách.

Đây cũng là lý do việc siết trách nhiệm đối với tình trạng chậm, nợ văn bản quy định chi tiết đang trở thành một yêu cầu xuyên suốt trong công tác quản lý nhà nước. Tháng 4/2026, Chính phủ đã nhấn mạnh yêu cầu gắn kết quả ban hành văn bản quy định chi tiết với đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan.

Từ góc nhìn này, việc hoàn thiện 20 dự án luật, nghị quyết trong thời gian ngắn không nên chỉ được đánh giá bằng việc có kịp trình hay không. Thước đo quan trọng hơn là hồ sơ có thực chất không, chính sách có giải quyết đúng vấn đề không, quy định có khả thi không và các điều kiện để luật được thực thi đã được chuẩn bị đến đâu.

Tăng tốc để nâng chuẩn lập pháp

Yêu cầu hoàn thiện 20 dự án luật, nghị quyết trong tháng 9/2026 là một nhiệm vụ có tính cấp thiết, nhưng đồng thời cũng mở ra cơ hội để tiếp tục nâng cao chuẩn mực của công tác lập pháp.

Điều cần hướng tới không phải là lựa chọn giữa “nhanh” và “chất lượng”, mà là xây dựng một quy trình để nhanh hơn nhờ chuẩn bị tốt hơn, phối hợp tốt hơn và trách nhiệm rõ hơn.

Muốn vậy, trước hết cần tiếp tục nâng cao trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu. Thứ hai, cần tăng cường phối hợp liên ngành ngay từ giai đoạn xây dựng chính sách thay vì chỉ phối hợp khi hồ sơ đã hoàn chỉnh. Thứ ba, cần coi đánh giá tác động và tham vấn đối tượng chịu tác động là công cụ nâng cao chất lượng chính sách chứ không chỉ là yêu cầu về thủ tục.

Thứ tư, cần kiểm soát chặt tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Mỗi dự án sửa đổi luật phải được đặt trong “bản đồ pháp lý” rộng hơn, qua đó nhận diện trước những quy định có nguy cơ chồng chéo hoặc tạo xung đột.

Cuối cùng, cần thay đổi cách đánh giá kết quả xây dựng pháp luật. Một cơ quan không nên chỉ được đánh giá cao vì hoàn thành hồ sơ đúng hạn, mà phải được đánh giá bằng chất lượng chính sách, tính khả thi của quy định và kết quả tổ chức thi hành sau khi văn bản có hiệu lực.

Đây chính là bước chuyển từ tư duy “quản lý quy trình lập pháp” sang “quản trị chất lượng pháp luật”.

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền, pháp luật không chỉ là công cụ quản lý mà còn là nền tảng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh và thúc đẩy phát triển. Vì vậy, mỗi đạo luật được ban hành phải tạo thêm giá trị cho xã hội, giảm chi phí tuân thủ, tăng tính minh bạch và củng cố niềm tin vào thể chế.

Việc khẩn trương hoàn thiện 20 dự án luật, nghị quyết vì thế cần được nhìn nhận không chỉ như một nhiệm vụ lập pháp trước mắt, mà còn là một phép thử đối với năng lực tổ chức xây dựng pháp luật trong giai đoạn mới.

Đẩy nhanh tiến độ là cần thiết; nhưng tăng tốc mà vẫn giữ vững chất lượng, tính thống nhất và khả năng thi hành mới là mục tiêu căn bản. Khi mỗi dự án luật được chuẩn bị kỹ từ chính sách, được thẩm định nghiêm túc, được giải trình minh bạch và được tính toán đầy đủ các điều kiện thi hành, tốc độ lập pháp sẽ không còn là áp lực đơn thuần về thời gian mà trở thành động lực nâng cao chất lượng quản trị quốc gia.

ThS Phạm Nhị Nguyên

___________________________________________

Tài liệu tham khảo

  1. Văn phòng Chính phủ, Văn bản số 9164/VPCP-PL ngày 09/9/2026 về việc hoàn thiện, trình Quốc hội các dự án luật, nghị quyết.
  2. Báo Điện tử Chính phủ, “Tập trung tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ‘hai con số’ năm 2026”, tháng 6/2026.
  3. Báo Điện tử Chính phủ, “Đẩy nhanh tiến độ xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh, nghị quyết”, tháng 1/2026.
  4. Báo Điện tử Chính phủ, “Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 25/4/2026”, tháng 4/2026.
  5. Báo Điện tử Chính phủ, “Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 8/7/2026”, tháng 7/2026.



Nguồn: Việt Nam Hội Nhập

CÙNG CHUYÊN MỤC

spot_imgspot_img
spot_imgspot_img
spot_imgspot_img
spot_imgspot_img

MỚI NHẤT