Đề xuất bỏ điểm cộng IELTS từ mùa tuyển sinh đại học 2027 khiến nhiều học sinh lớp 12 lo lắng, đồng thời làm “nóng” lại câu hỏi cũ: chính sách tuyển sinh đại học nên ổn định để người học kịp chuẩn bị, hay điều chỉnh hằng năm để sửa những bất hợp lý? Thiết nghĩ, câu trả lời không nằm ở việc chọn một trong hai, mà ở cách mỗi thay đổi được báo trước.
Chứng chỉ IELTS được đưa vào danh mục miễn thi ngoại ngữ xét tốt nghiệp từ kỳ thi năm 2015. Từ mùa tuyển sinh 2016, một số trường đại học bắt đầu dùng chứng chỉ này để xét tuyển. Kể từ đó, quy định thay đổi gần như liên tục.
Cụ thể: Năm 2017, các trường phải nêu rõ trong đề án có dùng kết quả miễn thi hay không. Năm 2024, các trường phải đối sánh dữ liệu chứng chỉ trước khi xét tuyển, mức quy đổi được xác định trong phương án của từng trường. Năm 2025, tổng điểm cộng bị giới hạn ở mức 10% thang điểm. Năm 2026, điểm khuyến khích cho chứng chỉ bị đặt trần 1,5 điểm trên thang 30. Đến tháng 9/2026, dự thảo sửa đổi quy định tuyển sinh đại học đề xuất bỏ hẳn điểm cộng từ năm 2027.
![]() |
| Tiết học của học sinh một trường THPT trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Ảnh: Châu Linh |
Những điều chỉnh này đều có lý do. Cùng mức IELTS nhưng các trường quy đổi thành điểm tiếng Anh với những mức điểm khác nhau. Lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo mới đây cho rằng việc cộng tới 1,5 điểm ở những ngành có điểm chuẩn rất cao sẽ bất cập, vì nhiều thí sinh giỏi không có điều kiện thi các chứng chỉ đắt tiền.
Chính sách cần được sửa khi thấy bất hợp lý là điều đương nhiên. Vấn đề cần bàn là sửa như thế nào. Là người công tác trong lĩnh vực giáo dục, tôi cho rằng việc sửa đổi quy chế tuyển sinh đại học cần phải được báo trước ít nhất 3 năm. Lý do là vì cấu trúc của Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Học sinh chọn các môn học tự chọn từ lớp 10 và theo học những môn ấy suốt ba năm THPT. Lựa chọn học môn nào sẽ quyết định các em được thi tốt nghiệp môn nào và đủ điều kiện xét tuyển vào những ngành nào. Trên thực tế, một khi đã chọn là rất khó đổi, thậm chí gần như không thể. Vì thế, mốc ba năm không phải con số tùy ý mà theo đúng logic của chương trình: lớp 10 chọn môn, ba năm học theo lựa chọn, hết lớp 12 thi/xét tuyển đại học.
Vì vậy, nếu quy chế tuyển sinh thay đổi khi học sinh đã ở lớp 11, lớp 12 thì các em không thể quay lại lớp 10 để chọn lại. Chứng chỉ ngoại ngữ cũng vậy. Việc học và thi IELTS không thể chỉ diễn ra trong ngắn hạn mà cần có kế hoạch dài hơi và sự đầu tư không nhỏ cả về thời gian, công sức lẫn tài chính. Các em học sinh lớp 12 năm nay đã lên kế hoạch học, thi và bỏ chi phí dựa trên quy chế hiện hành. Do đó, bỏ điểm cộng của chứng chỉ IELTS có thể giúp cách xét tuyển thống nhất hơn, công bằng hơn cho những học sinh vùng khó khăn nhưng cần có quy định chuyển tiếp để những em đã chuẩn bị không bị thiệt.
Ổn định không có nghĩa là bất biến. Giữ nguyên một quy định còn bất cập thêm ba năm cũng là thiệt thòi cho một nhóm thí sinh khác. Vì thế, tôi cho rằng nên phân biệt ba loại thay đổi:
Thay đổi tác động đến lựa chọn học tập (môn xét tuyển, cấu trúc bài thi, phương thức, thang điểm): báo trước tối thiểu ba năm, tính từ lúc học sinh bước vào lớp 10.
Điều chỉnh kỹ thuật nhằm tăng minh bạch hoặc ngăn lạm dụng: có thể áp dụng sớm hơn nhưng phải công bố trước mùa đăng ký và không làm mất những gì thí sinh đã tích lũy hợp lệ.
Cắt giảm một lợi thế đã tồn tại lâu, như điểm cộng chứng chỉ: nên giảm dần theo lộ trình nhiều năm thay vì bỏ đột ngột.
Ổn định còn là điều kiện để đánh giá chính sách. Muốn quy đổi giữa các bài thi và chứng chỉ một cách đáng tin cậy thì cần dữ liệu đủ lớn và phải kiểm chứng tính ổn định qua nhiều năm. Nếu quy chế đổi mỗi năm, dữ liệu ấy sẽ không bao giờ đủ dài để đánh giá chính xác. Vì vậy, câu hỏi không nên là “ổn định hay thay đổi” và “nên ổn định bao lâu thì thay đổi”, mà là “thay đổi thế nào để mọi thí sinh đều có thời gian chuẩn bị”. Một lộ trình công bố sớm và có quy định chuyển tiếp cho các khóa đang học lớp 11, 12 sẽ giữ được sự công bằng cho mọi đối tượng.
TS. Lại Thị Ngọc Hạnh
Trường Đại học Tây Nguyên
Nguồn: Báo Đắk Lắk điện tử






