spot_img
spot_img

Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhóm đối tượng đặc thù: Bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật và thúc đẩy công bằng xã hội

Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ngày càng giữ vai trò quan trọng trong nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của người dân. Đối với các nhóm đối tượng đặc thù như đồng bào dân tộc thiểu số, người dân ở vùng sâu, vùng xa, công nhân lao động, người yếu thế hay cư dân khu vực biên giới, hải đảo, việc tiếp cận thông tin pháp luật vẫn còn nhiều hạn chế.

QUYỀN TIẾP CẬN PHÁP LUẬT – NỀN TẢNG CỦA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ PHÁT TRIỂN BAO TRÙM

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật ngày càng được nhìn nhận không chỉ như một yêu cầu của quản lý nhà nước mà còn là một trong những điều kiện nền tảng để bảo đảm quyền con người, quyền công dân và thúc đẩy phát triển bền vững. Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, một hệ thống pháp luật dù được xây dựng đầy đủ và tiến bộ đến đâu cũng khó có thể phát huy hiệu quả nếu người dân không có khả năng tiếp cận, hiểu biết và vận dụng các quy định pháp luật vào đời sống. Chính vì vậy, quyền tiếp cận pháp luật được xem là “cánh cửa đầu tiên” để người dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời là thước đo quan trọng phản ánh mức độ dân chủ, công bằng và hiệu quả của nền quản trị quốc gia.

Hiến pháp năm 2013 khẳng định Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Để các quyền hiến định này được hiện thực hóa trong đời sống xã hội, người dân trước hết cần được tiếp cận đầy đủ, chính xác và kịp thời các quy định pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp và trách nhiệm của mình. Trong Nhà nước pháp quyền hiện đại, pháp luật không chỉ là công cụ quản lý xã hội mà còn là thiết chế bảo vệ công lý, bảo đảm bình đẳng trước pháp luật và tạo cơ sở để người dân tham gia vào các quá trình quản lý, giám sát và phát triển xã hội. Việc tiếp cận pháp luật vì thế không đơn thuần là tiếp nhận thông tin, mà còn là quá trình giúp mỗi cá nhân hiểu được các giá trị pháp lý, nhận thức được quyền lợi chính đáng của mình và có đủ năng lực để sử dụng pháp luật như một công cụ bảo vệ bản thân trước những rủi ro, tranh chấp hoặc hành vi xâm phạm quyền lợi.

Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia đang được đẩy mạnh, yêu cầu bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật càng trở nên cấp thiết. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã mở ra những phương thức mới để phổ biến, truyền tải và khai thác thông tin pháp luật, đồng thời tạo điều kiện để người dân tham gia sâu hơn vào các hoạt động quản trị xã hội. Tuy nhiên, công nghệ chỉ thực sự phát huy giá trị khi mọi người dân đều có cơ hội tiếp cận bình đẳng. Nếu thiếu các cơ chế hỗ trợ phù hợp, khoảng cách về trình độ nhận thức, điều kiện kinh tế, vị trí địa lý hoặc khả năng tiếp cận công nghệ có thể trở thành những rào cản mới làm gia tăng bất bình đẳng trong tiếp cận pháp luật. Điều này cho thấy bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật không chỉ là yêu cầu pháp lý mà còn là nhiệm vụ mang ý nghĩa xã hội sâu sắc, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bao trùm và không để ai bị bỏ lại phía sau.

tang cuong pho bien giao duc phap luat cho nhom doi tuong dac thu bao dam quyen tiep can phap luat

Cán bộ tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật đến người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần nâng cao nhận thức pháp lý và xây dựng đời sống văn minh.

Để pháp luật thực sự đi vào cuộc sống, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò là cầu nối trực tiếp giữa các quy định pháp luật với người dân, doanh nghiệp và cộng đồng xã hội. Trên thực tế, giá trị của pháp luật không nằm ở số lượng văn bản được ban hành mà ở mức độ được hiểu đúng, thực hiện đúng và tuân thủ trong đời sống hằng ngày. Một quy định pháp luật dù tiến bộ đến đâu cũng khó phát huy hiệu quả nếu người dân không biết đến sự tồn tại của quy định đó hoặc không hiểu cách thức áp dụng trong những tình huống cụ thể. Chính vì vậy, phổ biến, giáo dục pháp luật được xem là một bộ phận quan trọng trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật, góp phần đưa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với người dân một cách thiết thực và hiệu quả.

Sau hơn 13 năm triển khai Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, công tác này đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Hệ thống báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật, hòa giải viên ở cơ sở từng bước được củng cố; nhiều mô hình tuyên truyền pháp luật phù hợp với từng địa bàn, từng nhóm đối tượng được triển khai và phát huy hiệu quả. Hoạt động phổ biến pháp luật ngày càng đa dạng về nội dung và phương thức thực hiện, từ các hội nghị, tọa đàm truyền thống đến ứng dụng nền tảng số, mạng xã hội và các phương tiện truyền thông đa phương tiện. Qua đó, nhận thức pháp luật của người dân từng bước được nâng lên, góp phần hạn chế vi phạm pháp luật, giảm tranh chấp trong cộng đồng và nâng cao hiệu quả quản lý xã hội.

Ở góc độ rộng hơn, phổ biến, giáo dục pháp luật còn góp phần hình thành văn hóa thượng tôn pháp luật trong xã hội. Khi người dân hiểu được ý nghĩa của pháp luật, nhận thức rõ quyền và nghĩa vụ của mình, việc tuân thủ pháp luật sẽ xuất phát từ ý thức tự giác nhiều hơn là từ sự cưỡng chế của các thiết chế quản lý nhà nước. Đây cũng là điều kiện quan trọng để xây dựng xã hội kỷ cương, dân chủ và phát triển bền vững. Nhiều nghiên cứu về quản trị quốc gia đã chỉ ra rằng mức độ hiểu biết pháp luật của người dân có mối liên hệ chặt chẽ với chất lượng quản trị công, hiệu quả thực thi chính sách và mức độ tin cậy của xã hội đối với các cơ quan nhà nước. Khi người dân được trang bị đầy đủ kiến thức pháp lý, họ không chỉ trở thành chủ thể thực hiện pháp luật mà còn là lực lượng tham gia giám sát việc thực thi pháp luật, góp phần nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của bộ máy công quyền.

Quan điểm coi người dân là trung tâm của quá trình phát triển đã được Đảng ta xác định nhất quán trong nhiều văn kiện quan trọng. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh yêu cầu phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, bảo đảm mọi người dân được thụ hưởng thành quả phát triển, đồng thời xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả. Tiếp đó, Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đã xác định rõ yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyền công dân, nâng cao khả năng tiếp cận công lý và tiếp cận pháp luật của người dân. Đây là những định hướng có ý nghĩa chiến lược, thể hiện sự chuyển biến mạnh mẽ từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, từ việc lấy cơ quan nhà nước làm trung tâm sang lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm của quá trình hoạch định và thực thi chính sách.

Tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau” được thể hiện ngày càng rõ nét trong các chương trình phát triển kinh tế – xã hội, cải cách hành chính, chuyển đổi số và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Trong lĩnh vực phổ biến, giáo dục pháp luật, điều này đồng nghĩa với việc mọi người dân, bất kể nơi cư trú, điều kiện kinh tế, trình độ học vấn hay đặc điểm văn hóa, đều cần được tạo điều kiện tiếp cận bình đẳng với thông tin pháp luật và các dịch vụ pháp lý cơ bản. Đây không chỉ là yêu cầu về công bằng xã hội mà còn là giải pháp quan trọng nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, tăng cường năng lực tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, đồng thời nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trong thực tiễn.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, thực tiễn cho thấy khả năng tiếp cận pháp luật giữa các nhóm dân cư vẫn còn tồn tại những khoảng cách nhất định. Những khác biệt về điều kiện kinh tế – xã hội, địa bàn cư trú, trình độ dân trí, khả năng tiếp cận công nghệ và đặc điểm văn hóa đang tạo ra những mức độ tiếp cận pháp luật không đồng đều trong xã hội. Đặc biệt, đối với các nhóm đối tượng đặc thù như đồng bào dân tộc thiểu số, người dân vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới, hải đảo, công nhân lao động, người khuyết tật, người cao tuổi và các nhóm yếu thế khác, việc tiếp cận thông tin pháp luật vẫn gặp không ít khó khăn. Đây cũng là vấn đề đặt ra yêu cầu cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng thực chất, linh hoạt, lấy người dân làm trung tâm và bảo đảm mọi công dân đều có cơ hội tiếp cận pháp luật một cách bình đẳng, hiệu quả trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

NHÓM ĐỐI TƯỢNG ĐẶC THÙ VÀ NHỮNG RÀO CẢN TRONG TIẾP CẬN PHÁP LUẬT

Mặc dù quyền tiếp cận pháp luật đã được khẳng định là một trong những điều kiện quan trọng để bảo đảm quyền con người, quyền công dân và nâng cao hiệu quả quản trị xã hội, song trên thực tế, khả năng tiếp cận pháp luật giữa các nhóm dân cư vẫn còn tồn tại sự chênh lệch đáng kể. Sự khác biệt về điều kiện kinh tế – xã hội, vị trí địa lý, trình độ dân trí, khả năng tiếp cận công nghệ và đặc điểm văn hóa đã tạo nên những khoảng cách nhất định trong việc tiếp nhận, tìm hiểu và vận dụng pháp luật vào đời sống. Điều này đặc biệt thể hiện rõ ở các nhóm đối tượng đặc thù – những nhóm dân cư có nguy cơ cao bị hạn chế trong tiếp cận thông tin pháp luật do những yếu tố khách quan và chủ quan tác động đồng thời.

Theo định hướng sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và từ thực tiễn triển khai chính sách tại nhiều địa phương, nhóm đối tượng đặc thù cần được ưu tiên trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật bao gồm đồng bào dân tộc thiểu số; người dân sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn; cư dân khu vực biên giới, hải đảo; công nhân lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất; người khuyết tật; người cao tuổi; phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn; trẻ em và các nhóm yếu thế khác trong xã hội. Đây là những đối tượng thường gặp nhiều trở ngại trong việc tiếp cận thông tin, dịch vụ công và các nguồn lực xã hội nói chung, trong đó có thông tin pháp luật. Việc nhận diện đúng các nhóm đối tượng này không chỉ giúp hoạch định chính sách sát với thực tiễn mà còn là cơ sở để xây dựng các giải pháp phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp, hiệu quả và có tính bao trùm hơn.

Một trong những rào cản lớn nhất đối với quyền tiếp cận pháp luật hiện nay là yếu tố địa lý và điều kiện hạ tầng thông tin. Đối với người dân sinh sống tại các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo, khoảng cách địa lý vẫn là trở ngại đáng kể trong việc tiếp cận các hoạt động tuyên truyền, tư vấn và hỗ trợ pháp luật. Nhiều địa bàn có diện tích rộng, dân cư phân tán, giao thông đi lại khó khăn, đặc biệt vào mùa mưa lũ hoặc trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Trong khi đó, hệ thống hạ tầng thông tin và truyền thông ở một số khu vực vẫn chưa phát triển đồng bộ, dẫn đến khả năng tiếp cận các kênh thông tin pháp luật còn hạn chế.

Thực tiễn cho thấy, tại nhiều xã vùng cao thuộc khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên hoặc các địa bàn biên giới xa trung tâm, việc sử dụng các dịch vụ công trực tuyến và khai thác cơ sở dữ liệu điện tử còn gặp nhiều khó khăn do chất lượng kết nối internet chưa ổn định hoặc thiếu thiết bị hỗ trợ. Một số địa phương vẫn phải duy trì hình thức tuyên truyền trực tiếp thông qua các cuộc họp thôn, bản hoặc hệ thống loa truyền thanh cơ sở để bảo đảm thông tin pháp luật đến được với người dân. Điều này cho thấy dù chuyển đổi số đang mở ra nhiều cơ hội mới, nhưng những khác biệt về điều kiện hạ tầng vẫn là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận pháp luật của một bộ phận dân cư. Khi khoảng cách địa lý chưa được khắc phục và hạ tầng thông tin chưa được hoàn thiện, người dân sẽ gặp khó khăn trong việc tiếp cận các văn bản pháp luật mới, tìm kiếm thông tin chính sách hoặc tham gia các hoạt động tư vấn, hỗ trợ pháp lý.

Bên cạnh rào cản về không gian địa lý, yếu tố ngôn ngữ và văn hóa cũng là một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với sự đa dạng về tiếng nói, chữ viết và bản sắc văn hóa. Mặc dù tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức được sử dụng trong các văn bản pháp luật, song trên thực tế không phải mọi người dân đều có khả năng sử dụng thành thạo tiếng phổ thông, đặc biệt là người cao tuổi hoặc cư dân sinh sống ở những vùng đồng bào dân tộc thiểu số tập trung. Trong khi đó, ngôn ngữ pháp lý thường mang tính chuyên môn cao, nhiều thuật ngữ khó hiểu đối với người dân chưa được trang bị kiến thức pháp luật cơ bản.

Ngoài rào cản ngôn ngữ, tại một số địa phương vẫn tồn tại những phong tục, tập quán truyền thống có ảnh hưởng nhất định đến quá trình thực thi pháp luật. Các hiện tượng như tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống hoặc giải quyết tranh chấp theo tập quán cộng đồng vẫn xuất hiện ở một số nơi, dù đã có nhiều chuyển biến tích cực trong thời gian qua. Điều này cho thấy việc truyền tải pháp luật không thể chỉ dừng lại ở việc phổ biến nội dung quy định mà cần được thực hiện trên cơ sở tôn trọng đặc điểm văn hóa, phong tục và trình độ nhận thức của từng cộng đồng dân cư. Kinh nghiệm thực tiễn tại nhiều địa phương cho thấy các mô hình tuyên truyền bằng song ngữ, sử dụng người có uy tín trong cộng đồng hoặc lồng ghép nội dung pháp luật vào các hoạt động văn hóa truyền thống thường mang lại hiệu quả cao hơn so với các hình thức tuyên truyền mang tính áp đặt hoặc hành chính đơn thuần. Nếu không tính đến yếu tố ngôn ngữ và văn hóa, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật khó có thể đạt được mục tiêu chuyển hóa nhận thức thành hành vi tuân thủ pháp luật trong thực tế.

Một rào cản khác mang tính phổ biến là sự hạn chế về trình độ học vấn và kỹ năng pháp lý của một bộ phận người dân. Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện và mở rộng phạm vi điều chỉnh, nhiều quy định liên quan trực tiếp đến đời sống dân sinh như đất đai, dân sự, lao động, bảo hiểm xã hội, an sinh xã hội hay thủ tục hành chính đòi hỏi người dân phải có khả năng tìm hiểu, phân tích và vận dụng nhất định. Tuy nhiên, không phải ai cũng có điều kiện tiếp cận các nguồn thông tin chính thống hoặc được trang bị kỹ năng khai thác thông tin pháp luật một cách hiệu quả.

Thực tế cho thấy vẫn còn không ít trường hợp người dân chưa nắm rõ quyền và nghĩa vụ của mình trong các quan hệ pháp luật. Nhiều tranh chấp đất đai kéo dài xuất phát từ việc không hiểu đầy đủ các quy định liên quan đến quyền sử dụng đất hoặc thủ tục hành chính. Không ít người lao động chưa nắm rõ quyền lợi về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp hoặc các quy định bảo vệ quyền lợi trong quan hệ lao động. Tại một số địa phương, việc khiếu nại, tố cáo chưa đúng trình tự hoặc vượt cấp vẫn diễn ra do người dân chưa hiểu rõ quy trình giải quyết theo quy định của pháp luật. Những hạn chế này không chỉ ảnh hưởng đến khả năng tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân mà còn làm gia tăng chi phí xã hội trong quá trình giải quyết tranh chấp và tổ chức thi hành pháp luật.

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, một thách thức mới cũng đang đặt ra đối với công tác bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, đó là khoảng cách số. Sự phát triển của công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng số đã tạo điều kiện thuận lợi để người dân tiếp cận nhanh hơn với các văn bản quy phạm pháp luật, dịch vụ công trực tuyến và các hình thức tư vấn pháp lý từ xa. Tuy nhiên, lợi ích của chuyển đổi số không được phân bổ đồng đều giữa các nhóm dân cư.

Người cao tuổi thường gặp khó khăn trong việc sử dụng các thiết bị điện tử hoặc các ứng dụng trực tuyến. Những hộ gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn chưa có đủ thiết bị thông minh hoặc khả năng chi trả cho các dịch vụ kết nối internet. Tại nhiều địa bàn vùng sâu, vùng xa, hạ tầng số vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của quá trình chuyển đổi số toàn diện. Điều này dẫn đến một nghịch lý đáng chú ý: trong khi công nghệ đang mở rộng cơ hội tiếp cận thông tin pháp luật cho phần lớn người dân thì một số nhóm yếu thế lại có nguy cơ bị tụt lại phía sau nếu không có các chính sách hỗ trợ phù hợp.

Khoảng cách số vì vậy không chỉ là vấn đề kỹ thuật hay công nghệ mà còn là vấn đề của công bằng xã hội và quyền tiếp cận pháp luật. Nếu không có giải pháp thu hẹp khoảng cách này, quá trình chuyển đổi số có thể vô tình tạo ra những bất bình đẳng mới trong tiếp cận thông tin và thụ hưởng các dịch vụ pháp lý công. Đây cũng là lý do nhiều ý kiến trong quá trình sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật nhấn mạnh yêu cầu kết hợp giữa chuyển đổi số với các hình thức phổ biến pháp luật truyền thống, đồng thời xây dựng các cơ chế hỗ trợ dành cho những nhóm đối tượng còn gặp khó khăn trong tiếp cận công nghệ.

Nhìn tổng thể, các rào cản về địa lý, hạ tầng thông tin, ngôn ngữ, văn hóa, trình độ học vấn và khoảng cách số đang tạo nên những thách thức không nhỏ đối với mục tiêu bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của mọi công dân. Việc nhận diện đầy đủ các rào cản này không nhằm nhấn mạnh sự khác biệt giữa các nhóm dân cư, mà để hướng tới một cách tiếp cận toàn diện và nhân văn hơn trong xây dựng chính sách. Chỉ khi công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được thiết kế phù hợp với đặc điểm, nhu cầu và điều kiện tiếp cận của từng nhóm đối tượng, quyền tiếp cận pháp luật mới thực sự được bảo đảm một cách bình đẳng, qua đó góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển bao trùm và không để ai bị bỏ lại phía sau.

NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC SAU HƠN 13 NĂM THI HÀNH LUẬT PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

Sau hơn 13 năm triển khai thực hiện, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật đã từng bước đi vào cuộc sống, tạo hành lang pháp lý quan trọng để nâng cao nhận thức pháp luật trong xã hội, góp phần xây dựng ý thức thượng tôn pháp luật và củng cố nền tảng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong bối cảnh hệ thống pháp luật không ngừng được hoàn thiện, yêu cầu quản trị quốc gia ngày càng cao và quá trình chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã có nhiều đổi mới cả về tổ chức thực hiện, nội dung tuyên truyền và phương thức tiếp cận người dân.

Một trong những kết quả nổi bật là hệ thống tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ngày càng được kiện toàn theo hướng đồng bộ từ trung ương đến cơ sở. Mạng lưới báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật không ngừng được củng cố cả về số lượng và chất lượng, trở thành lực lượng nòng cốt trong việc đưa chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đến với người dân. Cùng với đó, Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp từng bước phát huy vai trò tham mưu, điều phối và kết nối giữa các cơ quan, đơn vị trong triển khai nhiệm vụ. Sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, cơ quan báo chí, cơ sở giáo dục và chính quyền địa phương đã tạo nên mạng lưới tuyên truyền rộng khắp, góp phần đưa pháp luật đến gần hơn với cộng đồng dân cư.

Từ góc độ quản trị xã hội, sự phát triển của hệ thống phổ biến, giáo dục pháp luật không chỉ giúp mở rộng phạm vi tiếp cận thông tin pháp luật mà còn từng bước hình thành cơ chế phối hợp liên ngành trong tổ chức thi hành pháp luật. Nếu như trước đây hoạt động phổ biến pháp luật chủ yếu được xem là nhiệm vụ riêng của ngành tư pháp thì hiện nay đã trở thành trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị. Nhờ đó, nhiều chính sách mới được truyền tải kịp thời tới người dân, doanh nghiệp, góp phần nâng cao tính minh bạch và hiệu quả thực thi pháp luật trong thực tiễn.

Cùng với việc hoàn thiện tổ chức bộ máy, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật cũng có nhiều đổi mới theo hướng đa dạng, linh hoạt và phù hợp hơn với nhu cầu của từng nhóm đối tượng. Bên cạnh các hình thức tuyên truyền truyền thống như hội nghị, hội thảo, tập huấn hay phát hành tài liệu pháp luật, nhiều mô hình sáng tạo đã được triển khai và mang lại hiệu quả tích cực. Hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật Việt Nam hằng năm đã trở thành đợt sinh hoạt chính trị – pháp lý sâu rộng, góp phần nâng cao nhận thức pháp luật trong xã hội. Các phiên tòa giả định được tổ chức tại trường học, khu dân cư hay địa bàn có nguy cơ phát sinh vi phạm pháp luật đã giúp người dân, đặc biệt là thanh thiếu niên, tiếp cận kiến thức pháp luật một cách trực quan và sinh động hơn.

Bên cạnh đó, các tổ hòa giải ở cơ sở tiếp tục phát huy vai trò là “cầu nối” giữa pháp luật với cộng đồng, góp phần giải quyết nhiều mâu thuẫn, tranh chấp ngay từ cơ sở, hạn chế khiếu kiện kéo dài và giữ gìn đoàn kết trong nhân dân. Mô hình câu lạc bộ pháp luật, tủ sách pháp luật tại nhiều địa phương cũng tạo thêm kênh tiếp cận thông tin pháp luật thuận tiện cho người dân. Những đổi mới này cho thấy công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đang từng bước chuyển từ phương thức truyền đạt thông tin một chiều sang tăng cường tương tác, đối thoại và hỗ trợ người dân giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn.

Đặc biệt, nhiều mô hình phổ biến pháp luật dành riêng cho các nhóm đối tượng đặc thù đã được triển khai và chứng minh hiệu quả rõ nét. Tại nhiều địa phương miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, mô hình phát huy vai trò người có uy tín trong cộng đồng được đánh giá là một trong những cách làm phù hợp và bền vững. Với lợi thế về sự am hiểu phong tục, tập quán và có ảnh hưởng trong cộng đồng dân cư, những người có uy tín đã trở thành lực lượng quan trọng trong việc giải thích chính sách, vận động người dân chấp hành pháp luật, hòa giải mâu thuẫn và đấu tranh xóa bỏ các hủ tục lạc hậu. Thực tiễn cho thấy, nhiều chủ trương, chính sách chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi được truyền tải thông qua những người mà cộng đồng tin tưởng và lắng nghe.

Tại các tỉnh miền núi phía Bắc như Lào Cai, Hà Giang, Sơn La, mô hình phát thanh pháp luật bằng song ngữ được triển khai tại nhiều xã, thôn, bản đã góp phần khắc phục rào cản ngôn ngữ trong tiếp cận thông tin pháp luật. Việc sử dụng đồng thời tiếng phổ thông và tiếng dân tộc giúp nội dung pháp luật trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn đối với người dân, từ đó nâng cao hiệu quả tuyên truyền. Đây là minh chứng cho thấy công tác phổ biến pháp luật chỉ thực sự phát huy tác dụng khi được thiết kế phù hợp với đặc điểm văn hóa và điều kiện tiếp nhận của từng cộng đồng.

Đối với công nhân và người lao động trong các khu công nghiệp, nhiều mô hình tuyên truyền pháp luật lưu động, tư vấn pháp lý miễn phí, đối thoại chính sách tại doanh nghiệp đã được triển khai hiệu quả. Nội dung tập trung vào các vấn đề thiết thực như hợp đồng lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, an toàn vệ sinh lao động và giải quyết tranh chấp lao động. Những hoạt động này không chỉ giúp người lao động hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình mà còn góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật vẫn còn bộc lộ một số hạn chế cần tiếp tục được khắc phục. Tại một số địa phương, hoạt động tuyên truyền vẫn thiên về truyền đạt nội dung văn bản mà chưa chú trọng đầy đủ đến nhu cầu tiếp nhận của người dân. Một số chương trình còn mang tính dàn trải, thiếu trọng tâm, chưa phân hóa rõ theo từng nhóm đối tượng cụ thể. Việc ứng dụng công nghệ số tuy đã được đẩy mạnh nhưng chưa đồng đều giữa các địa bàn, đặc biệt tại những khu vực còn khó khăn về hạ tầng số. Nguồn lực dành cho công tác phổ biến pháp luật ở cơ sở còn hạn chế, trong khi đội ngũ tuyên truyền viên tại một số nơi chưa được đào tạo đầy đủ về kỹ năng truyền thông hiện đại.

Những hạn chế này cho thấy yêu cầu đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay không chỉ dừng ở việc mở rộng phạm vi tuyên truyền mà cần thay đổi cả tư duy tiếp cận, lấy người dân làm trung tâm và hướng đến hiệu quả thực chất của quá trình thực thi pháp luật.

ĐỔI MỚI TƯ DUY PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT THEO HƯỚNG LẤY NGƯỜI DÂN LÀM TRUNG TÂM

Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế số, xã hội số và thúc đẩy quản trị hiện đại, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cần được đổi mới mạnh mẽ theo hướng lấy người dân làm trung tâm. Đây không chỉ là yêu cầu xuất phát từ thực tiễn mà còn phù hợp với quan điểm xuyên suốt của Đảng về phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, bảo đảm mọi chính sách đều hướng tới phục vụ người dân và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Trước hết, cần chuyển mạnh từ tư duy “cung cấp thông tin pháp luật” sang tư duy “hỗ trợ thực thi pháp luật”. Trong nhiều năm, hiệu quả của công tác phổ biến pháp luật thường được đánh giá thông qua số lượng hội nghị được tổ chức, số lượng tài liệu được phát hành hoặc số lượt người tham dự các hoạt động tuyên truyền. Tuy nhiên, những chỉ số này chưa phản ánh đầy đủ chất lượng tiếp nhận và khả năng vận dụng pháp luật của người dân trong thực tế. Điều người dân cần không chỉ là biết pháp luật quy định như thế nào mà còn phải hiểu rõ quy định đó liên quan gì đến cuộc sống của mình, áp dụng ra sao và cần tìm đến đâu khi gặp khó khăn hoặc phát sinh tranh chấp.

Từ góc độ này, phổ biến, giáo dục pháp luật cần được nhìn nhận như một quá trình hỗ trợ người dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình thay vì chỉ truyền tải thông tin một chiều. Hiệu quả của công tác này cần được đo lường bằng khả năng người dân vận dụng pháp luật trong giải quyết công việc hằng ngày, giảm thiểu tranh chấp, hạn chế vi phạm và nâng cao năng lực tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bản thân. Đây cũng là xu hướng đang được nhiều quốc gia áp dụng trong các chương trình nâng cao hiểu biết pháp luật cộng đồng.

Để đạt được mục tiêu đó, nội dung phổ biến pháp luật cần được thiết kế phù hợp với đặc điểm của từng nhóm đối tượng thay vì triển khai theo cách tiếp cận đồng loạt. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, các nội dung liên quan đến đất đai, hôn nhân và gia đình, chính sách dân tộc, bảo vệ rừng và phát triển sinh kế bền vững thường có ý nghĩa thiết thực hơn. Đối với công nhân lao động, các quy định về hợp đồng lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội, an toàn lao động và giải quyết tranh chấp lao động cần được ưu tiên phổ biến. Với ngư dân và cư dân vùng biển, kiến thức pháp luật liên quan đến khai thác thủy sản, bảo vệ môi trường biển, chủ quyền quốc gia và an toàn hàng hải có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong khi đó, người cao tuổi lại có nhu cầu tìm hiểu nhiều hơn về thừa kế, bảo hiểm, chăm sóc sức khỏe và các chính sách an sinh xã hội.

Cách tiếp cận theo nhu cầu giúp pháp luật trở nên gần gũi với đời sống hơn, đồng thời nâng cao hiệu quả tiếp nhận thông tin. Người dân sẽ quan tâm và chủ động tìm hiểu pháp luật khi nhận thấy những quy định đó có liên quan trực tiếp đến quyền lợi và các vấn đề họ đang đối mặt trong thực tế.

Một yêu cầu quan trọng khác là tôn trọng và phát huy giá trị văn hóa của từng cộng đồng trong quá trình phổ biến, giáo dục pháp luật. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các chương trình pháp luật dành cho cộng đồng bản địa ở Canada hay người Maori tại New Zealand đều được xây dựng trên cơ sở tôn trọng bản sắc văn hóa, ngôn ngữ và đặc điểm xã hội của từng nhóm dân cư. Thay vì áp dụng cách tiếp cận mang tính hành chính đơn thuần, các quốc gia này chú trọng đối thoại, tham vấn cộng đồng và lựa chọn những phương thức truyền thông phù hợp với tập quán địa phương.

Đối với Việt Nam, bài học này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh đất nước có 54 dân tộc anh em với sự đa dạng về văn hóa, ngôn ngữ và điều kiện phát triển. Nội dung pháp luật muốn đi vào cuộc sống cần được truyền tải bằng ngôn ngữ dễ hiểu, gần gũi với người dân, đồng thời được lồng ghép khéo léo vào các hoạt động văn hóa, sinh hoạt cộng đồng và các thiết chế xã hội ở cơ sở. Chỉ khi người dân cảm thấy pháp luật là một phần của cuộc sống và gắn với những lợi ích thiết thực của mình, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật mới có thể phát huy hiệu quả bền vững, góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và củng cố nền tảng xã hội cho quá trình phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

CHUYỂN ĐỔI SỐ MỞ RA CƠ HỘI MỚI TRONG BẢO ĐẢM QUYỀN TIẾP CẬN PHÁP LUẬT

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và quá trình chuyển đổi số quốc gia đang tạo ra những thay đổi căn bản trong phương thức quản trị nhà nước, cung cấp dịch vụ công và tương tác giữa chính quyền với người dân. Trong lĩnh vực phổ biến, giáo dục pháp luật, chuyển đổi số không chỉ là xu hướng tất yếu mà còn mở ra cơ hội quan trọng để mở rộng phạm vi tiếp cận thông tin pháp luật, nâng cao hiệu quả tuyên truyền và bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận pháp luật của mọi công dân.

Nếu như trước đây hoạt động phổ biến pháp luật chủ yếu được thực hiện thông qua các hình thức truyền thống như hội nghị, tập huấn, tờ rơi, tài liệu giấy hoặc các chương trình phát thanh, truyền hình thì hiện nay môi trường số đang từng bước thay đổi cách thức truyền tải và tiếp nhận thông tin pháp luật. Các cổng thông tin điện tử, nền tảng số, mạng xã hội, ứng dụng trên thiết bị di động và các công cụ hỗ trợ thông minh đang giúp người dân tiếp cận các quy định pháp luật nhanh hơn, thuận tiện hơn và ít bị giới hạn bởi khoảng cách địa lý. Thông tin pháp luật không còn phụ thuộc hoàn toàn vào các đợt tuyên truyền tập trung mà có thể được cập nhật liên tục, tra cứu bất cứ lúc nào và ở bất kỳ đâu có kết nối internet.

Xu hướng này cũng phù hợp với sự phát triển chung của thế giới. Tại nhiều quốc gia, các giải pháp công nghệ pháp lý (Legal Tech) đang được ứng dụng ngày càng rộng rãi nhằm hỗ trợ người dân tiếp cận pháp luật và các dịch vụ tư pháp. Các nền tảng trợ giúp pháp lý trực tuyến, hệ thống giải đáp pháp luật tự động, chatbot tư vấn pháp lý hay các kho dữ liệu pháp luật mở đang từng bước thay đổi phương thức cung cấp thông tin pháp luật truyền thống. Những mô hình này không chỉ giúp tiết kiệm chi phí mà còn nâng cao khả năng tiếp cận của người dân đối với các dịch vụ pháp lý cơ bản. Mặc dù điều kiện phát triển giữa các quốc gia có sự khác biệt, song xu hướng lấy công nghệ làm công cụ hỗ trợ phổ biến pháp luật đang trở thành lựa chọn chung của nhiều nền quản trị hiện đại.

Trong bối cảnh đó, việc xây dựng và vận hành Cổng Pháp luật quốc gia được xem là một bước tiến quan trọng trong quá trình chuyển đổi số lĩnh vực pháp luật ở Việt Nam. Theo định hướng của cơ quan quản lý nhà nước, đây sẽ là nền tảng dữ liệu pháp lý tập trung, tạo điều kiện để người dân và doanh nghiệp tiếp cận các quy định pháp luật một cách thuận lợi, nhanh chóng và chính xác hơn. Thay vì phải tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, người dân có thể tra cứu các văn bản pháp luật, thủ tục hành chính, chính sách mới ban hành và các nội dung hướng dẫn thực hiện thông qua một đầu mối thống nhất.

Ý nghĩa của Cổng Pháp luật quốc gia không chỉ nằm ở khía cạnh kỹ thuật hay công nghệ. Xa hơn, đây là một bước cụ thể hóa chủ trương xây dựng Chính phủ số, hướng tới nền hành chính công khai, minh bạch và phục vụ người dân. Khi thông tin pháp luật được chuẩn hóa, cập nhật kịp thời và công khai trên môi trường số, người dân có thêm điều kiện để giám sát hoạt động quản lý nhà nước, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình một cách chủ động hơn. Đồng thời, việc tiếp cận thuận lợi với các nguồn dữ liệu pháp lý chính thống cũng góp phần hạn chế tình trạng tiếp nhận thông tin sai lệch hoặc không đầy đủ từ các nguồn không chính thức.

Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội lớn mà chuyển đổi số mang lại, một thách thức không nhỏ cũng đang đặt ra là nguy cơ gia tăng khoảng cách số giữa các nhóm dân cư. Trên thực tế, không phải mọi người dân đều có điều kiện tiếp cận và sử dụng công nghệ ở mức độ như nhau. Người cao tuổi thường gặp khó khăn trong việc sử dụng thiết bị thông minh và các nền tảng trực tuyến. Người dân có hoàn cảnh kinh tế khó khăn có thể thiếu thiết bị hoặc điều kiện kết nối internet. Tại nhiều khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa và biên giới, hạ tầng viễn thông vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng yêu cầu phát triển các dịch vụ số.

Do đó, bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật trong thời đại số không chỉ dừng lại ở việc xây dựng các nền tảng công nghệ mà còn phải đồng thời thu hẹp khoảng cách số giữa các nhóm dân cư. Điều này đòi hỏi sự đầu tư đồng bộ về hạ tầng viễn thông, mở rộng vùng phủ sóng internet, nâng cao chất lượng kết nối tại các địa bàn khó khăn. Song song với đó là các chương trình phổ cập kỹ năng số, hỗ trợ thiết bị công nghệ cho các nhóm yếu thế và hướng dẫn người dân sử dụng các dịch vụ công trực tuyến. Việc đào tạo kỹ năng số cần được xem là một bộ phận quan trọng trong quá trình nâng cao năng lực tiếp cận pháp luật của công dân trong bối cảnh mới.

Có thể thấy, chuyển đổi số chỉ thực sự thành công khi người dân có đủ khả năng tiếp cận, khai thác và sử dụng các công cụ công nghệ để thực hiện quyền lợi của mình. Khi công nghệ được kết hợp với các chính sách hỗ trợ phù hợp, quyền tiếp cận pháp luật sẽ được mở rộng một cách thực chất hơn, tạo điều kiện để mọi người dân cùng tham gia vào quá trình phát triển của đất nước.

HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

Những yêu cầu mới của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế số, xã hội số và hoàn thiện thể chế phát triển đất nước đang đặt ra nhiệm vụ tiếp tục đổi mới toàn diện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh đó, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật không chỉ nhằm khắc phục những hạn chế phát sinh sau hơn một thập kỷ thi hành mà còn tạo cơ sở pháp lý cho những phương thức tiếp cận mới phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn tới.

Một trong những định hướng quan trọng là tiếp tục hoàn thiện các quy định liên quan đến nhóm đối tượng đặc thù. Thực tiễn cho thấy cùng với sự phát triển của xã hội, các nhóm dễ bị tổn thương hoặc gặp khó khăn trong tiếp cận pháp luật ngày càng đa dạng hơn. Do đó, việc mở rộng phạm vi điều chỉnh theo hướng bao quát đầy đủ hơn các nhóm đối tượng cần được ưu tiên hỗ trợ là yêu cầu cần thiết nhằm bảo đảm mọi công dân đều được tiếp cận bình đẳng với thông tin pháp luật và các dịch vụ pháp lý cơ bản.

Một điểm mới có ý nghĩa chiến lược trong quá trình sửa đổi luật là yêu cầu thể chế hóa hoạt động truyền thông chính sách. Theo đó, người dân không chỉ được tiếp cận các quy định pháp luật sau khi ban hành mà còn được tham gia từ giai đoạn xây dựng chính sách và soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đây là cách tiếp cận phù hợp với yêu cầu quản trị hiện đại, góp phần nâng cao tính minh bạch, tăng cường sự đồng thuận xã hội và giúp các cơ quan quản lý nhà nước tiếp nhận tốt hơn những phản hồi từ thực tiễn. Khi người dân được tham gia sớm vào quá trình hình thành chính sách, chất lượng văn bản pháp luật cũng có điều kiện được nâng cao hơn.

Cùng với đó, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số cần được xác định là một trong những giải pháp trọng tâm của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn mới. Không chỉ dừng lại ở việc số hóa tài liệu hay xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử, chuyển đổi số cần hướng tới hình thành hệ sinh thái pháp luật số, trong đó người dân có thể tiếp cận thông tin, được tư vấn, giải đáp và hỗ trợ thực hiện các thủ tục pháp lý thông qua nhiều phương thức khác nhau trên môi trường trực tuyến.

Để hiện thực hóa những mục tiêu đó, việc nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong mọi giai đoạn phát triển, con người vẫn là yếu tố quyết định hiệu quả của hoạt động tuyên truyền pháp luật. Do đó, cần tiếp tục chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật, hòa giải viên ở cơ sở theo hướng vừa vững chuyên môn pháp lý, vừa có kỹ năng truyền thông và năng lực ứng dụng công nghệ số.

Đặc biệt, đối với các địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và khu vực khó khăn, vai trò của người có uy tín trong cộng đồng cần tiếp tục được phát huy. Thực tiễn cho thấy đây là lực lượng có khả năng kết nối giữa chính sách với người dân một cách hiệu quả, góp phần nâng cao tính thuyết phục và khả năng tiếp nhận thông tin pháp luật trong cộng đồng. Quan điểm này cũng phù hợp với tinh thần của Chỉ thị số 58-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng và pháp luật cho công nhân trong tình hình mới, trong đó nhấn mạnh yêu cầu xây dựng đội ngũ làm công tác tuyên truyền có đủ năng lực, bản lĩnh và kỹ năng đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Bên cạnh việc hoàn thiện thể chế và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cần tiếp tục huy động sự tham gia đồng bộ của toàn xã hội vào công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Đây không phải là nhiệm vụ riêng của ngành tư pháp mà là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, doanh nghiệp, cơ quan báo chí, cơ sở giáo dục và cộng đồng dân cư sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp trong việc đưa pháp luật đến với người dân.

Trong đó, báo chí và các nền tảng truyền thông hiện đại có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc truyền tải thông tin chính sách, định hướng dư luận xã hội và nâng cao hiểu biết pháp luật. Nhà trường là môi trường hình thành ý thức pháp luật cho thế hệ trẻ. Doanh nghiệp vừa là đối tượng thụ hưởng, vừa là chủ thể tham gia phổ biến pháp luật cho người lao động. Chính quyền cơ sở là nơi trực tiếp triển khai và tổ chức thực hiện các hoạt động tuyên truyền, tư vấn và hỗ trợ pháp lý cho người dân. Chỉ khi có sự phối hợp đồng bộ giữa các chủ thể này, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật mới có thể phát huy hiệu quả sâu rộng và bền vững.

Về lâu dài, cần hướng tới xây dựng hệ sinh thái tiếp cận pháp luật toàn diện, trong đó các hoạt động truyền thông chính sách, phổ biến giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý, hòa giải ở cơ sở, tư vấn pháp luật và dịch vụ công trực tuyến được kết nối chặt chẽ với nhau. Đây không chỉ là sự tích hợp về mặt kỹ thuật hay tổ chức mà còn là sự thay đổi trong tư duy quản trị, chuyển từ cách tiếp cận phân tán sang tiếp cận tổng thể lấy người dân làm trung tâm. Một hệ sinh thái như vậy sẽ tạo ra chuỗi hỗ trợ xuyên suốt, giúp người dân không chỉ được cung cấp thông tin pháp luật mà còn được đồng hành trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.

KẾT LUẬN

Quyền tiếp cận pháp luật là một bộ phận quan trọng của quyền con người, quyền công dân và là một trong những nền tảng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia và hướng tới mục tiêu phát triển bao trùm, việc tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật cho các nhóm đối tượng đặc thù không chỉ mang ý nghĩa pháp lý mà còn có ý nghĩa xã hội, chính trị và phát triển sâu sắc.

Hơn 13 năm thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật đã ghi nhận nhiều kết quả tích cực trong việc nâng cao nhận thức pháp luật của người dân, mở rộng phạm vi tiếp cận thông tin pháp luật và hình thành văn hóa thượng tôn pháp luật trong xã hội. Tuy nhiên, những khác biệt về điều kiện địa lý, trình độ dân trí, ngôn ngữ, văn hóa và khả năng tiếp cận công nghệ vẫn đang tạo ra những khoảng cách nhất định giữa các nhóm dân cư. Điều đó đòi hỏi công tác phổ biến, giáo dục pháp luật phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ theo hướng lấy người dân làm trung tâm, bảo đảm tính phù hợp với từng nhóm đối tượng và gắn chặt với yêu cầu chuyển đổi số trong giai đoạn mới.

Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật cần hướng tới xây dựng cơ chế bảo đảm mọi công dân đều được tiếp cận thông tin pháp luật một cách bình đẳng, thuận lợi và hiệu quả; đồng thời tạo điều kiện để người dân tham gia sâu hơn vào quá trình xây dựng, thực thi và giám sát chính sách. Khi pháp luật thực sự đến được với từng người dân, đặc biệt là những nhóm còn nhiều khó khăn trong tiếp cận thông tin, nền tảng của Nhà nước pháp quyền sẽ tiếp tục được củng cố, niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước sẽ ngày càng được tăng cường, qua đó góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển bao trùm, công bằng và không để ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình phát triển đất nước./.

Ths. Lê Văn Mạnh



Nguồn: Việt Nam Hội Nhập

CÙNG CHUYÊN MỤC

spot_imgspot_img
spot_imgspot_img
spot_imgspot_img
spot_imgspot_img

MỚI NHẤT