spot_img
spot_img

Phát triển đội ngũ doanh nhân Thủ đô trong kỷ nguyên mới: Từ Nghị quyết 68-NQ/TW đến cải cách thể chế

Nhân Ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10, nhìn từ Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị, Hà Nội đang đứng trước cơ hội chuyển lợi thế về thị trường, tri thức và đổi mới sáng tạo thành sức mạnh của đội ngũ doanh nhân Thủ đô. Dữ liệu năm 2025 của VCCI cho thấy Hà Nội đứng thứ hai trong 34 địa phương về Chỉ số Hiệu quả kinh tế tư nhân (BPI), song một số tiêu chí minh bạch, cạnh tranh bình đẳng và thiết chế pháp lý vẫn dưới mức trung vị. Để doanh nhân thực sự trở thành lực lượng kiến tạo tăng trưởng, Thủ đô cần chuyển trọng tâm từ khuyến khích thành lập doanh nghiệp sang nuôi dưỡng năng lực phát triển bền vững, bảo đảm quyền kinh doanh và nâng cao chất lượng phục vụ của chính quyền.

Từ khóa: doanh nhân Thủ đô; Nghị quyết 68-NQ/TW; kinh tế tư nhân; PCI 2.0; đổi mới sáng tạo.

tw den cai cach the che 6ac861d692406

1. Doanh nhân Thủ đô trước yêu cầu phát triển mới

Ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10 là dịp ghi nhận đóng góp của những người tổ chức sản xuất, tạo việc làm, mở rộng thị trường và chấp nhận rủi ro để hình thành giá trị mới. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng dựa vào tri thức và công nghệ, vai trò của doanh nhân còn thể hiện ở khả năng đổi mới mô hình kinh doanh, nâng cao năng suất và hình thành chuẩn mực ứng xử có trách nhiệm với xã hội. Vì vậy, phát triển đội ngũ doanh nhân cần được xem xét cả ở quy mô hoạt động lẫn năng lực tạo lập giá trị lâu dài.

Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”, đồng thời nhấn mạnh việc bảo đảm quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng. Đến năm 2030, Nghị quyết đặt mục tiêu có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động và khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 55–58% GDP [1]. Những mục tiêu này cho thấy yêu cầu phát triển không dừng ở gia tăng số lượng chủ thể kinh doanh mà còn gắn với chất lượng thể chế, năng lực quản trị và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Là trung tâm chính trị, hành chính, giáo dục và khoa học của cả nước, Hà Nội có điều kiện thuận lợi để kết nối nguồn nhân lực, công nghệ, dịch vụ và thị trường. Tuy nhiên, tiềm năng phát triển chỉ được hiện thực hóa khi doanh nghiệp có khả năng tiếp cận cơ hội theo những quy tắc rõ ràng, ổn định và được thực thi nhất quán. Bởi vậy, xây dựng đội ngũ doanh nhân Thủ đô trong kỷ nguyên mới cần đặt trong quan hệ giữa phát huy nội lực doanh nghiệp và cải thiện môi trường kinh doanh.

2. Sức sống doanh nghiệp: cơ hội lớn, sức ép không nhỏ

Theo Sở Tài chính Hà Nội, năm 2025 thành phố có khoảng 32,8 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký 427,4 nghìn tỷ đồng và khoảng 11,1 nghìn doanh nghiệp hoạt động trở lại. Tổng số doanh nghiệp gia nhập, tái gia nhập thị trường đạt 43.862; trong khi số doanh nghiệp tạm ngừng và thông báo quyết định giải thể là 38.383. Đến thời điểm báo cáo, Hà Nội có 427.147 doanh nghiệp đăng ký lũy kế, trong đó 226.458 doanh nghiệp đang hoạt động [2]. Bức tranh này phản ánh quy mô đáng kể của cộng đồng kinh doanh, đồng thời cho thấy hoạt động gia nhập thị trường diễn ra song song với quá trình sàng lọc doanh nghiệp.

Trong tám tháng đầu năm 2026, số doanh nghiệp thành lập mới đạt 23.609, tăng 8% so với cùng kỳ; vốn đăng ký đạt 472.022 tỷ đồng, tăng 97%. Cùng thời gian, có 9.118 doanh nghiệp hoạt động trở lại, 24.917 doanh nghiệp tạm ngừng và 8.821 doanh nghiệp giải thể. Số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn được công bố là 237.151 [3]. Sự gia tăng về số lượng và vốn đăng ký thể hiện sức hút của thị trường Hà Nội, nhưng số doanh nghiệp gián đoạn hoặc chấm dứt hoạt động cũng cho thấy áp lực không nhỏ trong duy trì sản xuất, kinh doanh.

Từ góc độ đánh giá chính sách, cần phân biệt doanh nghiệp đăng ký lũy kế với doanh nghiệp đang hoạt động; vốn đăng ký với vốn đã thực hiện; tạm ngừng với giải thể. Những nhóm thống kê này phản ánh các trạng thái khác nhau, không thể cộng trừ giản đơn để xác định mức tăng ròng hay tỷ lệ tồn tại của doanh nghiệp. Do đó, cùng với việc khuyến khích khởi sự, Hà Nội cần quan tâm nhiều hơn đến khả năng duy trì dòng tiền, nâng cao quản trị, mở rộng thị trường và vượt qua giai đoạn tăng trưởng ban đầu. Chất lượng phát triển của đội ngũ doanh nhân phụ thuộc đáng kể vào những điều kiện giúp doanh nghiệp đứng vững sau khi gia nhập thị trường.

3. Từ chỉ số VCCI: lợi thế đổi mới và khoảng trống thể chế

Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025 của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) ghi nhận Hà Nội đạt 5,41 điểm Chỉ số Hiệu quả kinh tế tư nhân (BPI), đứng thứ hai trong 34 tỉnh, thành phố, sau Thành phố Hồ Chí Minh với 5,67 điểm. Hai chiều cạnh cấu thành chỉ số của Hà Nội lần lượt đạt 4,84 điểm về phát triển khu vực tư nhân và 5,98 điểm về đổi mới sáng tạo [4]. Kết quả này gợi mở lợi thế tương đối của Thủ đô trong phát triển kinh tế tư nhân dựa trên tri thức, phù hợp với điều kiện tập trung các cơ sở đào tạo, nghiên cứu và hoạt động công nghệ.

Dù vậy, BPI hiện là chỉ số thử nghiệm, được xây dựng từ những nhóm biến tổng hợp và còn giới hạn nhất định về dữ liệu. Điểm số ở cấp địa phương vì thế không phản ánh trực tiếp năng lực của từng doanh nhân. Giá trị chủ yếu của chỉ số là cung cấp thêm căn cứ để nhận diện xu hướng phát triển và những điều kiện cần tiếp tục củng cố.

Ở góc độ môi trường kinh doanh, dữ liệu PCI 2.0 năm 2025 cho thấy những khác biệt đáng chú ý giữa các nhóm tiêu chí. Hà Nội đạt 6,69 điểm về tiếp cận nguồn lực, cao hơn mức trung vị 6,05 điểm của 34 địa phương; chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đạt 6,00 điểm, so với mức trung vị 5,43 điểm. Trái lại, tính minh bạch đạt 6,06 điểm, thấp hơn trung vị 6,93; cạnh tranh bình đẳng đạt 4,77 điểm so với 5,51; thiết chế pháp lý đạt 6,09 điểm so với 7,29 [5]. Sự chênh lệch này cho thấy chính sách hỗ trợ và khả năng tiếp cận nguồn lực cần được đặt trong mối quan hệ với chất lượng thực thi các quy tắc kinh doanh.

Đối với doanh nhân, tính minh bạch ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận thông tin và dự liệu chi phí; cạnh tranh bình đẳng quyết định cơ hội gia nhập, mở rộng thị trường; còn thiết chế pháp lý góp phần củng cố niềm tin khi xác lập giao dịch và giải quyết tranh chấp. Vì vậy, cải thiện môi trường kinh doanh không đơn thuần là gia tăng các chương trình hỗ trợ mà còn phải nâng cao tính nhất quán, khả năng dự báo và hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp. Cần lưu ý PCI 2025 sử dụng cấu trúc PCI 2.0 và phạm vi 34 địa phương, nên không so sánh cơ học các điểm thành phần với những năm trước; các chỉ số cũng không phải căn cứ để quy kết vi phạm pháp luật của một cơ quan hay cá nhân cụ thể.

4. Kiến tạo hệ sinh thái: quyền kinh doanh phải đi cùng năng lực phát triển

Từ tinh thần Nghị quyết 68-NQ/TW và thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp Hà Nội, việc kiến tạo hệ sinh thái phát triển cần hướng đến cả hai phương diện: bảo đảm những điều kiện kinh doanh bình đẳng và nâng cao năng lực của chủ thể tham gia thị trường. Trên cơ sở đó, có thể nhấn mạnh bốn định hướng trọng tâm.

Thứ nhất, nâng cao tính minh bạch và khả năng dự báo của môi trường thể chế. Thông tin về quy hoạch, điều kiện đầu tư, tiếp cận đất đai, chính sách hỗ trợ và cơ hội mua sắm công cần được công bố đầy đủ, thuận tiện cho việc tra cứu, đối chiếu. Quy trình giải quyết thủ tục phải có thời hạn rõ ràng, tiêu chí nhất quán và cơ chế phản hồi khi doanh nghiệp phát sinh vướng mắc. Khi các quyết định hành chính có thể được giải thích và kiểm chứng, chi phí tuân thủ sẽ có điều kiện giảm xuống, qua đó tạo cơ sở cho những kế hoạch đầu tư dài hạn.

Thứ hai, đổi mới chính sách hỗ trợ theo vòng đời doanh nghiệp. Ở giai đoạn khởi sự, nhu cầu tập trung vào tư vấn pháp lý, thuế, kế toán và xây dựng mô hình kinh doanh. Khi bước vào tăng trưởng, doanh nghiệp cần tiếp cận vốn phù hợp, nâng cao năng lực quản trị và đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng. Với doanh nghiệp có định hướng mở rộng ra thị trường quốc tế, hỗ trợ cần chú trọng sở hữu trí tuệ, chứng nhận, hợp đồng thương mại và quản trị rủi ro chuỗi cung ứng. Cách tiếp cận này phù hợp với định hướng đa dạng hóa nguồn vốn và mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng trên cơ sở phương án kinh doanh, dữ liệu, dòng tiền được nêu trong quá trình triển khai Nghị quyết 68 [6].

Thứ ba, thúc đẩy liên kết thực chất giữa doanh nghiệp với trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức hỗ trợ đổi mới sáng tạo. Lợi thế tri thức của Hà Nội chỉ tạo ra giá trị kinh tế khi được chuyển hóa thành giải pháp công nghệ, sản phẩm có thị trường và phương thức quản trị hiệu quả. Vì vậy, các hoạt động kết nối cần xuất phát từ nhu cầu của doanh nghiệp, hướng tới hợp đồng chuyển giao công nghệ, ứng dụng kết quả nghiên cứu và nâng cao chất lượng nhân lực. Hiệu quả hợp tác nên được đánh giá bằng kết quả triển khai thay vì chủ yếu dựa vào số hội thảo hoặc biên bản ghi nhớ.

Thứ tư, xây dựng văn hóa doanh nhân Thủ đô dựa trên liêm chính, thượng tôn pháp luật và trách nhiệm xã hội. Năng lực kinh doanh bền vững không tách rời việc tôn trọng người lao động, người tiêu dùng, môi trường và cộng đồng. Cùng với yêu cầu minh bạch tài chính, cạnh tranh lành mạnh và thực hiện nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp, cơ quan công quyền phải bảo đảm sự bình đẳng trong áp dụng chính sách và bảo vệ quyền kinh doanh hợp pháp. Mối quan hệ trách nhiệm hai chiều này là nền tảng tạo dựng niềm tin giữa Nhà nước và cộng đồng doanh nhân.

Luật Thủ đô số 39/2024/QH15 là một cơ sở pháp lý quan trọng để Hà Nội nghiên cứu và triển khai những cơ chế phát triển phù hợp với đặc thù địa phương [7]. Tuy nhiên, việc vận dụng các chính sách hỗ trợ hoặc cơ chế ưu đãi phải căn cứ vào điều khoản cụ thể, thẩm quyền và quy định hướng dẫn hiện hành, bảo đảm tính hợp pháp và khả thi trong thực thi.

5. Lấy sự trưởng thành của doanh nhân làm thước đo

Một hệ sinh thái kinh doanh hiệu quả cần được đánh giá bằng khả năng giúp doanh nghiệp tồn tại, lớn lên và tạo ra giá trị mới. Theo đó, bên cạnh số lượng đăng ký thành lập, Hà Nội nên xây dựng hệ thống theo dõi tỷ lệ doanh nghiệp duy trì hoạt động sau ba và năm năm, mức tăng về việc làm và doanh thu, năng suất lao động, khả năng tiếp cận vốn, kết quả đổi mới sản phẩm và mức độ tham gia chuỗi cung ứng. Các chỉ tiêu cần được phân tổ theo quy mô, ngành nghề và giai đoạn phát triển, đồng thời có phương pháp thống kê ổn định để so sánh giữa các kỳ.

Cùng với theo dõi kết quả kinh doanh, cơ chế đối thoại giữa chính quyền và doanh nhân cần gắn với trách nhiệm xử lý kiến nghị. Đối với những vướng mắc phổ biến, nên công khai cơ quan phụ trách, thời hạn giải quyết và kết quả thực hiện; khuyến khích VCCI, các hiệp hội và cơ sở nghiên cứu tham gia góp ý, đánh giá độc lập. Phản hồi chính sách dựa trên bằng chứng sẽ giúp nhận diện sớm những điểm nghẽn trong thực thi, đồng thời hạn chế cách đánh giá hiệu quả chỉ bằng số lượng cuộc họp hoặc văn bản ban hành.

Nhân Ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10/2026, việc ghi nhận đóng góp của cộng đồng doanh nhân Thủ đô cũng cần được thể hiện bằng những cải cách tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh lâu dài. Hà Nội cần tiếp tục khuyến khích tinh thần khởi nghiệp, song thước đo quan trọng hơn là năng lực trưởng thành của doanh nghiệp và khả năng đóng góp ổn định cho nền kinh tế. Khi quyền kinh doanh được bảo đảm, nguồn lực tri thức được kết nối với thị trường và trách nhiệm xã hội trở thành chuẩn mực, đội ngũ doanh nhân Thủ đô sẽ có điều kiện phát huy vai trò trong quá trình phát triển bền vững.

Nhà báo Trung Kiên

________________________________________

Tài liệu tham khảo

[1] Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân. https://baochinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-so-68-nq-tw-ve-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-102250505122337909.htm

[2] Sở Tài chính Hà Nội (2026). Tình hình phát triển kinh tế – xã hội tháng 12 năm 2025 của thành phố Hà Nội. https://sotaichinh.hanoi.gov.vn/tinh-hinh-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-thang-12-nam-2025-cua-thanh-pho-ha-noi-104050.html.

[3] Sở Tài chính Hà Nội (2026). Tình hình phát triển kinh tế – xã hội tháng 8 năm 2026 của thành phố Hà Nội. https://sotaichinh.hanoi.gov.vn/tinh-hinh-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-thang-8-nam-2026-cua-thanh-pho-ha-noi-163544.html.

[4] VCCI (2026). Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025, Chương 4: Chỉ số Hiệu quả kinh tế tư nhân (BPI). https://pcivietnam.vn/data_pci_file/general_file/1779092272-05.%20Bao%20cao%20PCI%202025.pdf.

[5] VCCI (2026). Báo cáo thường niên Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025: Bảng dữ liệu BPI và PCI 2.0 của 34 tỉnh, thành phố. https://pcivietnam.vn/report-2025

[6] Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2025). Nghị quyết 68-NQ/TW: Đa dạng hóa nguồn vốn cho kinh tế tư nhân. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/nghi-quyet-68-nq-tw-da-dang-hoa-nguon-von-cho-kinh-te-tu-nhan-119250505140756505.htm

[7] Quốc hội (2024). Luật Thủ đô số 39/2024/QH15, ngày 28/6/2024. https://vanban.chinhphu.vn/?classid=1&docid=211197&orggroupid=1&pageid=27160



Nguồn: Việt Nam Hội Nhập

CÙNG CHUYÊN MỤC

spot_imgspot_img
spot_imgspot_img
spot_imgspot_img
spot_imgspot_img

MỚI NHẤT