Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp và áp lực an ninh lương thực ngày càng tăng, chuyển đổi số không đơn giản chỉ là lựa chọn mà đã trở thành yếu tố then chốt giúp tối ưu hóa sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam.
Nông nghiệp chính xác – hoạt động canh tác dựa trên dữ liệu thời gian thực với sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật và dữ liệu lớn – đang dần định hình lại diện mạo của những cánh đồng Việt Nam.
Xu hướng canh tác thông minh
Theo báo cáo từ Precedence Research – công ty nghiên cứu thị trường và tư vấn toàn cầu, quy mô thị trường nông nghiệp chính xác trên toàn thế giới đạt 14,18 tỷ USD vào năm 2025. Với tốc độ tăng trưởng kép hằng năm khoảng 13,05% trong giai đoạn 2026 – 2035, con số này dự kiến sẽ tăng lên 48,36 tỷ USD vào cuối năm 2035. Tốc độ tăng trưởng nhanh chóng này được thúc đẩy bởi nhu cầu tối ưu hóa nguồn tài nguyên nhằm giảm thiểu tác động đến môi trường và những nỗ lực đẩy mạnh việc tích hợp công nghệ số với mục tiêu tối ưu hóa năng suất cây trồng.

Những con số trên cho thấy nông nghiệp chính xác không chỉ là một trào lưu nhất thời mà là nền tảng cốt lõi của một nền kinh tế xanh bền vững. Xu hướng này sẽ còn gia tăng mạnh mẽ khi các quốc gia tiên phong đang dần thay thế phương pháp canh tác dựa trên kinh nghiệm bằng các quyết định dựa trên dữ liệu thực tế. Điều này không chỉ giúp tối ưu hóa bài toán chi phí tổng thể cho nhà nông mà còn đảm bảo chất lượng nông sản đầu ra ổn định, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của chuỗi cung ứng toàn cầu.
Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng canh tác thông minh toàn cầu khi thời gian gần đây đã chứng kiến những bước tiến lớn trong việc số hóa đồng ruộng, với quy mô thị trường nông nghiệp chính xác năm 2025 đạt tới 50,99 triệu USD. Đáng chú ý, chỉ trong giai đoạn 2020 – 2025, số lượng thiết bị bay không người lái được sử dụng trong ngành nông nghiệp Việt Nam đã tăng tới 300%. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đang đẩy mạnh các gói hỗ trợ nhằm khuyến khích nông dân tiếp cận với hạ tầng dữ liệu chung, thúc đẩy số hóa toàn diện quy trình canh tác.
Công ty Cổ phần Thành Thành Công – Biên Hòa (TTC AgriS) là minh chứng tiêu biểu cho việc tiên phong hiện thực hóa nông nghiệp chính xác tại Việt Nam. Là một trong những doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ lớn nhất cả nước, TTC AgriS đã bắt đầu triển khai hệ thống quản lý dịch hại tổng hợp không phụ thuộc nhiều vào hóa chất trên vùng nguyên liệu rộng lớn gần 80.000 ha trải dài ở Việt Nam và các nước lân cận, giúp giảm đáng kể lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng trên mỗi héc-ta. Bên cạnh đó, doanh nghiệp này còn tích hợp các công nghệ tiên tiến như thiết bị bay không người lái, viễn thám và trí tuệ nhân tạo giúp dự báo sản lượng chính xác lên đến 95%, từ đó tối ưu hóa chuỗi cung ứng xuất khẩu sang các thị trường khó tính như EU.
Có thể thấy, nông nghiệp chính xác đang tạo ra một lực đẩy mới, giúp người nông dân Việt Nam tối ưu hóa nguồn lực và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Chính việc áp dụng dữ liệu vào các hoạt động canh tác sẽ giúp nâng cao vị thế của nền nông nghiệp Việt Nam trên bản đồ thế giới, tạo lợi thế cạnh tranh đáng kể cho mặt hàng nông sản xuất khẩu của quốc gia.
Vẫn còn những rào cản
Mặc dù tiềm năng phát triển và những lợi ích của việc ứng dụng nông nghiệp chính xác là vô cùng ấn tượng, song thực tế triển khai tại Việt Nam vẫn đang đối mặt với những thách thức không nhỏ, đòi hỏi những giải pháp căn cơ, dài hạn và đồng bộ để bứt phá.
Một trong những rào cản lớn nhất của việc hiện thực hóa quy trình canh tác thông minh là chi phí đầu tư ban đầu còn quá cao so với thu nhập của đại bộ phận nông dân. Cụ thể, việc lắp đặt một hệ thống trạm quan trắc khí tượng thông minh hay đầu tư thiết bị bay không người lái đòi hỏi nguồn vốn lên đến hàng trăm triệu đồng, vượt quá khả năng của phần lớn hộ sản xuất nhỏ lẻ. Trong khi đó, các gói tín dụng ưu đãi cho chuyển đổi số nông nghiệp vẫn còn khá hạn chế và thủ tục giải ngân còn rườm rà.
Sự hạn chế về trình độ tiếp cận công nghệ của lực lượng lao động nông thôn cũng là một trong những lý do khiến việc áp dụng giải pháp số chưa đạt hiệu quả như mong đợi. Đa phần nông dân hiện nay đã lớn tuổi, vốn quen với phương thức canh tác truyền thống nên việc thao tác trên ứng dụng di động, đọc hiểu các biểu đồ dữ liệu, phân tích chỉ số đất hay điều khiển các thiết bị thông minh là một thử thách lớn. Mặt khác, lực lượng lao động trẻ có kiến thức công nghệ lại có xu hướng rời bỏ nông thôn để tìm kiếm cơ hội tại các thành phố lớn, dẫn đến tình trạng thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực có khả năng làm chủ công nghệ tại thực địa.
Ngoài ra, sự manh mún và nhỏ lẻ của diện tích đất canh tác tại nhiều địa phương, đặc biệt là vùng Đồng bằng sông Hồng và miền Trung làm phức tạp hóa cũng như gây khó khăn cho việc vận hành máy móc tự động. Nông nghiệp chính xác chỉ thực sự phát huy hiệu quả tối đa trên những cánh đồng mẫu lớn, nơi máy móc có thể vận hành liên tục và đồng bộ. Việc ruộng đất bị chia cắt bởi quá nhiều chủ sở hữu khiến việc triển khai hạ tầng kỹ thuật chung như trạm quan trắc thời tiết hay hệ thống kênh mương thông minh gặp không ít trở ngại.
Nông nghiệp chính xác đang mở ra kỷ nguyên mới cho ngành nông nghiệp Việt Nam, là con đường tất yếu để phát triển bền vững và vươn tầm quốc tế. Tuy vẫn có những rào cản, song với sự phối hợp nhịp nhàng giữa Chính phủ, doanh nghiệp và nông dân, niềm tin về một nền nông nghiệp xanh, thông minh, tiên tiến là hoàn toàn có cơ sở.
Đặng Thắng
Nguồn: “Báo Đắk Lắk điện tử”. Link tại đây.






